|
Lễ hội Cầu ngư
Thời gian:
Hai ngày trung tuần tháng 3 âm lịch.
Vị trí: Những vùng ven biển như Mân Thái, Thọ
Quang, Thanh Lộc Đán, Xuân Hà, Ḥa Hiệp...
Đặc điểm: Hàng năm, thường là sau khi ăn Tết xong,
như dân tổ chức lễ tế cá Ông lồng ghép dưới h́nh thức Lễ
hội Cầu ngư và lễ ra quân đánh bắt vụ cá nam.
|
Ngày
đầu thiết lễ tiên thường, ngày sau là lễ tế chính thức.
Trong ngày lễ, bàn thờ được trang hoàng hết sức rực rỡ,
trang nghiêm. Các nhà đều đặt bàn hương án bày đồ lễ
cúng. Trên mỗi tàu thuyền đều chăng đèn kết hoa. Làng
chọn ra một ban nghi lễ gồm các cụ cao niên, hiền đức,
có uy tín với bạn chài và không bị mắc tang chế. Vị
chánh bái dâng đồ tế lễ (không được dùng hải sản) và đọc
văn tế nói lên ḷng biết ơn của dân làng đối với công
đức Cá Ông và cầu mong mùa đánh bắt bội thu, thuyền bè
đi khơi về lộng an toàn.
Rạng sáng ngày hôm sau, dân làng đánh trống làm lễ rước
trên biển. Có nơi c̣n tổ chức lễ rước Ông từ làng này
qua làng khác để bày tỏ sự đoàn kết giữa các vạn chài.
Tất cả tàu thuyền ra khơi đến một vị trí đă định trước
và vị chánh tế tổ chức “xin keo”. Đó là lễ Cá Ông chứng
dám ḷng thành của ngư dân ngoài biển. Vào nửa đêm hôm
đó, dân làng làm lễ chánh tế bao gồm lễ khai mơ, đội học
tṛ dâng hương. Về phần hội, tuỳ điều kiện, mỗi địa
phương có một h́nh thức tổ chức riêng, nhưng cũng đều là
các tṛ chơi dân gian vùng biển: lắc thúng, đua thuyền,
bơi lội, kéo co, đá bóng... Về văn nghệ, ngoài hát tuồng,
hát ḥ khoan, c̣n có một h́nh thức múa hát đặc trưng của
Lễ hội Cầu ngư là múa hát bả trạo (bả: nắm, trạo: chèo
đ̣) diễn tả tinh thần đoàn kết giữa các thành viên trong
một con thuyền, vượt qua sóng to gió cả, mang về một mùa
bội thu cho ngư dân.
Lễ hội Cầu ngư bày tỏ khát vọng được b́nh yên trong cuộc
sống của ngư dân, những con người luôn phải đối mặt với
nhiều bất trắc khi lênh đênh trên biển cả. |
|