English

Trang chủ | Tour Du lịch | Thông tin Việt Nam | Thông tin Du lịch | Danh bạ Du lịch | Dịch vụ bổ trợ | Vui chơi / Giải trí | Cửa hàng lưu niệm
Thông tin Hà nội
Khái quát chung
Địa giới hành chính
Văn hóa
Lễ hội
Ẩm thực
Làng nghề
Giao thông
 Thông tin du lịch Hà nội
Địa danh du lịch đặc sắc
Bản đồ Du lịch
Dự án Du lịch
Thông tin cần thiết
Danh bạ
Tour Du lịch
 

Hỗ trợ trực tuyến

Send message

Tel: (04) 39.059.059
Fax: (04) 3933.4659
Hotline: 0944 916 916

 

Số lượng Khách truy cập

 
Tour du lịch Quốc tế

Tour du lịch Thái lan

Tour Du lịch Singapore

Tour Du lịch Malaysia

Tour Du lịch Campuchia

Tour Du lịch Lào

Tour Du lịch Hồng Kông

Tour Du lịch Trung Quốc

 
 
 
 
 
Khái quát chung Hà nội

Thành phố Hà Nội

Diện tích:                  3.324,92km²
Dân số (8/2008):        6.232,9 ngh́n người
Các quận/huyện:
- 9 Quận: Hoàn Kiếm, Ba Đ́nh, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Tây Hồ, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Long Biên, Hoàng Mai.
- 2 thành phố: Hà Đông, Sơn Tây.

- 18 huyện: Đông Anh, Sóc Sơn, Thanh Tŕ, Từ Liêm, Gia Lâm (Hà Nội cũ); Ba V́, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Ḥa (Hà Tây cũ) và Mê Linh (từ Vĩnh Phúc).
Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Mường, Tày, Dao...
Hà Nội là Thủ đô của nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam


 

Điều kiện tự nhiên

Toàn cảnh Hồ Hoàn Kiếm
Vị trí địa lư:
Hà Nội nằm ở đồng bằng Bắc bộ, tiếp giáp với các tỉnh: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía bắc; phía nam giáp Hà Nam và Hoà B́nh; phía đông giáp các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên; phía tây giáp tỉnh Hoà B́nh và Phú Thọ.  

Hà Nội nằm ở phía hữu ngạn sông Đà và hai bên sông Hồng, vị trí và địa thế thuận lợi cho một trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học và đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam.

 

Hồ Tây
Khí hậu:
Khí hậu Hà Nội khá tiêu biểu cho kiểu khí hậu Bắc bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa ấm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít. Nằm trong vùng nhiệt đới, Hà Nội quanh nǎm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao. Lượng bức xạ tổng cộng trung b́nh hàng nǎm ở Hà Nội là 122,8 kcal/cm2 và nhiệt độ không khí trung b́nh hàng nǎm là 23,6ºC. Do chịu ảnh hưởng của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn. Độ ẩm tương đối trung b́nh hàng nǎm là 79%. Lượng mưa trung b́nh hàng nǎm là 1.800mm và mỗi nǎm có khoảng 114 ngày mưa. Đặc điểm khí hậu Hà Nội rơ nét nhất là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh. Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa. Nhiệt độ trung b́nh mùa này là 29,2ºC. Từ tháng 11 đến tháng 3 nǎm sau là mùa đông thời tiết khô ráo. Nhiệt độ trung b́nh mùa đông 15,2ºC. Giữa hai mùa đó lại có hai thời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10) cho nên Hà Nội có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Bốn mùa thay đổi làm cho thời tiết Hà Nội mùa nào cũng có vẻ đẹp riêng. Mùa tham quan du lịch thích hợp nhất ở Hà Nội là mùa thu. Phần địa h́nh của Hà Tây (cũ) sáp nhập với Hà Nội, có những đặc điểm riêng nên h́nh thành những tiểu vùng khí hậu: vùng núi, vùng g̣ đồi và đồng bằng. Nhưng nói chung sự khác biệt thời tiết và chênh lệch về nhiệt độ giữa các địa phương của Hà Nội hiện nay không lớn.

 

Hồ Thủ Lệ
Địa h́nh: Hà Nội có hai dạng địa h́nh chính là đồng bằng và đồi núi. Địa h́nh đồng bằng chủ yếu thuộc địa phận Hà Nội cũ và một số huyện phía đông của Hà Tây (cũ), chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên, nằm bên hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các sông. Phần lớn địa h́nh đồi núi thuộc địa phận các huyện Sóc Sơn, Ba V́, Quốc Oai, Mỹ Đức. Một số đỉnh núi cao như: Ba V́ 1.281m; Gia Dê 707m; Chân Chim 462m; Thanh Lanh 427m; Thiên Trù 378m; Bà Tượng 334m; Sóc Sơn 308m; Núi Bộc 245m; Dục Linh 294m…

 

Sông ng̣i: Hà Nội nằm cạnh hai con sông lớn ở miền Bắc: sông Đà và sông Hồng. Sông Hồng dài 1.183km từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống. Đoạn sông Hồng qua Hà Nội dài 163km (chiếm khoảng 1/3 chiều dài trên đất Việt Nam, khoảng 550km. Ngoài hai con sông lớn, trên địa phận Hà Nội c̣n có các sông: Đuống, Cầu, Cà Lồ, Đáy, Nhuệ, Tích, Tô Lịch, Kim Ngưu, Bùi.      

Hồ đầm ở địa bàn Hà Nội có nhiều. Những hồ nổi tiếng ở nội thành Hà Nội như hồ Tây, Trúc Bạch, Hoàn Kiếm, Thiền Quang, Bảy Mẫu. Hàng chục hồ đầm thuộc địa phận Hà Nội cũ: hồ Kim Liên, hồ Liên Đàm, đầm Vân Tŕ... và nhiều hồ lớn thuộc địa phận Hà Tây (cũ): Ngải Sơn - Đồng Mô, Suối Hai, Mèo Gù, Xuân Khanh, Tuy Lai, Quan Sơn...      

 

Dân cư

Chợ hoa ngày tết
Theo số liệu 1/4/1999 cư dân Hà Nội và Hà Tây (cũ) chủ yếu là người dân tộc Việt (Kinh) chiếm tỷ lệ 99,1%; các dân tộc khác: Dao, Mường, Tày chiếm 0,9%. Năm 2006 cũng trên địa bàn Hà Nội và Hà Tây (cũ) cư dân đô thị chiếm tỷ lệ 41,1% và cư dân nông thôn là 58,1%; tỷ lệ nữ chiếm 50,7% và nam là 49,3%. Mật độ dân cư b́nh quân hiện nay trên toàn thành phố là 1875 người/km2, cư dân sản xuất nông nghiệp khoảng 2,5 triệu người. 

 

 

Giao thông

Từ thủ đô Hà Nội, có thể đi khắp mọi miền đất nước bằng các loại phương tiện giao thông đều thuận tiện.

 

Đường không: sân bay quốc tế Nội Bài (nằm ở địa phận huyện Sóc Sơn, cách trung tâm Hà Nội chừng 35km). Sân bay Gia Lâm, vốn là sân bay chính của Hà Nội từ trước những năm 70 thế kỷ 20. Bây giờ là sân bay trực thăng phục vụ bay dịch vụ, trong đó có dịch vụ du lịch.

 

Giao thông
Đường bộ: Xe ô tô khách liên tỉnh xuất phát từ các bến xe Phía Nam, Gia Lâm, Lương Yên, Nước Ngầm, Mỹ Đ́nh toả đi khắp mọi miền trên toàn quốc theo các quốc lộ 1A xuyên Bắc - Nam; quốc lộ 2 đi Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang; quốc lộ 3 đi Thái Nguyên, Cao Bằng; quốc lộ 5 đi Hải Pḥng, Quảng Ninh; quốc lộ 6 đi Hoà B́nh, Sơn La, Lai Châu… 

 

Đường sắt: Hà Nội là đầu mối giao thông của 5 tuyến đường sắt trong nước. Có đường sắt liên vận sang Bắc Kinh (Trung Quốc),  đi nhiều nước châu Âu.

 

Đường thuỷ: Hà Nội là đầu mối giao thông quan trọng với bến Phà Đen đi Hưng Yên, Nam Định, Thái B́nh, Việt Tŕ; bến Hàm Tử Quan đi Phả Lại.


Văn hóa – Du lịch

Hà Nội hiện có trên 4.000 di tích và danh thắng, trong đó được xếp hạng quốc gia trên 1.000 di tích và danh thắng (hàng trăm di tích, danh thắng mới được sáp nhập từ Hà Tây và Mê Linh) với hàng trăm đền, chùa, công tŕnh kiến trúc, danh thắng nổi tiếng.

 

Hà Nội là một trung tâm du lịch lớn ở Việt Nam. Du khách có dịp khám phá nhiều công tŕnh kiến trúc văn hóa - nghệ thuật xây dựng qua nhiều thế hệ, trong suốt quá tŕnh dựng nước và giữ nước. Những danh thắng tự nhiên đẹp và quyến rũ; những làng nghề thủ công tồn tại hàng trăm năm; những lễ hội truyền thống - sản phẩm văn hóa kết tinh nhiều giá trị tinh thần... sẽ là những sản phẩm du lịch hấp dẫn. 

 

Không phải Hà Nội vào cuối thế kỷ 20 mới có được bấy nhiêu điều kiện thuận lợi mà từ lâu, từ ngày vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư (Ninh B́nh) về Đại La để lập kinh đô Thăng Long vào tháng bảy năm Canh Tuất (1010), trong "Chiếu dời đô", vị vua khai sáng triều Lư (1010-1225) đồng thời khai sáng cho Thăng Long - Hà Nội đă chỉ ra.

 

Nguồn: Tổng cục Du lịch
 
 

Tên gọi

Hà Nội đă trải qua nhiều tên gọi khác nhau trong lịch sử. Trong thời kỳ cai trị của người Trung Quốc nó từng có tên là huyện Tống B́nh, xuất hiện trong sử sách từ những năm 454-456 thời Nam Bắc triều của Trung Quốc.

Năm 545, Lư Bí đánh thắng quân nhà Lương lập nên nước Vạn Xuân độc lập. Ông tự xưng Lư Nam Đế, định đô ở miền cửa sông Tô Lịch, Hà Nội. Ông cho lập điện Vạn Thọ là nơi họp bàn việc nước. Lư Nam Đế cũng cho dựng một ngôi chùa lớn ở phường Yên Hoa (Yên Phụ) tên là Khai Quốc, tiền thân của Chùa Trấn Quốc ngày nay.

Thời kỳ bị phương Bắc độ hộ: nhà Tùy (581-618), nhà Đường (618-907), trị sở ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay), tới đời Tùy chúng mới chuyển đến Tống B́nh, tức Hà Nội.

Thành cũng c̣n có tên là Đại La. Sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục có viết:

"Thành này do Trương Bá Nghi đắp từ năm Đại Lịch thứ 2 (767) đời Đường; năm Trinh Nguyên thứ 7 (791), Triệu Xương đắp thêm; năm Nguyên Ḥa thứ 3 (808), Trương Chu lại sửa đắp lại; năm Trường Khánh thứ 4 (824), Lư Nguyên Gia dời phủ trị tới bên sông Tô Lịch, đắp một cái thành nhỏ, gọi là La Thành; năm Hàm Thông thứ 7 (866), Cao Biền đắp ngoại thành bao quanh "kim thành", cũng gọi tên là La Thành."

Đại La, hay Đại La thành, nguyên là tên ṿng thành ngoài cùng bao bọc lấy ṿng thành nhỏ hơn ở trong, gọi là Kinh Đô hay kim thành. Theo kiến trúc xưa, Kinh Đô thường có "Tam trùng thành quách": trong cùng là Tử Cấm thành (tức bức thành màu đỏ tía) nơi vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoài cùng là Đại La thành. Năm 866 Cao Biền bồi đắp thêm Đại La thành rộng hơn và vững chăi hơn trước. Từ đó, thành này được gọi là thành Đại La. Thí dụ trong Chiếu dời đô của vua Lư Thái Tổ viết năm 1010 có viết: "... Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương (tức Cao Biền) ở giữa khu vực trời đất..." (Toàn thư, Tập I, H, 1993, tr 241).

Long Đỗ (rốn rồng) cũng là một tên gọi của Hà Nội, nhưng không phải tên gọi chính thức, tên gọi này xuất hiện từ thời Cao Biền. Truyền thuyết kể rằng, vào năm 866, khi Cao Biền mới đắp thành Đại La, thấy thần nhân hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ. Do đó trong sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long Đỗ.

Khi Việt Nam giành được độc lập, Hà Nội lúc đó trở thành thủ đô của Đại Việt từ thế kỷ thứ 11, với tên gọi Thăng Long (昇龍, có nghĩa là "rồng bay lên"), sau khi Lư Công Uẩn ra chiếu dời đô năm 1010 từ Hoa Lư. Đây được xem là mốc son đánh dấu sự phát triển của thủ đô Hà Nội Việt Nam. Thăng Long là thủ đô cho đến năm 1397, khi thủ đô được di chuyển về Thanh Hóa, (tức Tây Đô). Thăng Long khi đó có tên gọi là Đông Đô.

Sách Đại Việt sử kư toàn thư cho biết:

"Mùa hạ tháng 4 năm Đinh Sửu (1397) lấy Phó tướng Lê Hán Thương (tức Hồ Hán Thương - TM) coi phủ đô hộ là Đông Đô" (Toàn thư Sđd - tr 192).

Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sử thần nhà Nguyễn chú thích:

"Đông Đô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hoá là Tây Đô, Thăng Long là Đông Đô" (Cương mục - Tập 2, H 1998, tr 700).

Năm 1408, nước Đại Ngu của cha con họ Hồ bị quân đội của nhà Minh xâm chiếm và Đông Đô bị người Minh đổi tên thành Đông Quan.

Năm 1428, sau khi quân đội của Lê Lợi giải phóng đất nước th́ Đông Quan được đổi tên thành Đông Kinh - tên gọi này người châu Âu phiên âm thành Tonkin. Sách Đại Việt sử kư toàn thư cho biết sự ra đời của cái tên này như sau:

"Mùa hạ, tháng 4 năm Đinh Mùi (1427), Vua (tức Lê Lợi - TM) từ điện tranh ở Bồ Đề, vào đóng ở thành Đông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Đại Việt đóng đô ở Đông Kinh. Ngày 15 vua lên ngôi ở Đông Kinh, tức là thành Thăng Long. V́ Thanh Hóa có Tây Đô, cho nên gọi thành Thăng Long là Đông Kinh" (Toàn thư - Sđd. Tập 2, tr 293).

Thời Tây Sơn, v́ kinh đô đóng ở Phú Xuân thành c̣n có tên là Bắc Thành.

Năm 1802, khi nhà Nguyễn chuyển kinh đô về Huế, nó lại được đổi tên thành Thăng Long, nhưng lần này chữ "Long" (隆) biểu hiện cho sự thịnh vượng, chứ không phải là rồng, với lư do rằng rồng là tượng trưng cho nhà vua, nay vua không ở đây th́ không được dùng chữ "Long" là "rồng" (Trần Huy Liệu (chủ biên), Lịch sử thủ đô Hà Nội, H. 1960, tr 81).

Sau đó vua Gia Long c̣n hạ lệnh phá bỏ hoàng thành cũ, v́ vua không đóng đô ở Thăng Long, mà hoàng thành Thăng Long lại rộng quá.

Năm 1831 vua Minh Mạng lập ra tỉnh Hà Nội: tỉnh nằm trong (Nội) hai con sông (Hà) là sông Hồngsông Đáy.

Khi Việt Nam tiếp xúc với phương Tây, tên Hán-Việt của Hà Nội Đông Kinh, được viết thành Tonkin và được người châu Âu dùng phổ biến. Năm 1873, người Pháp bắt đầu tiến đánh Hà Nội và 10 năm sau th́ chiếm toàn bộ. Từ năm 1887, Hà Nội trở thành thủ phủ của Đông Dương thuộc Pháp.

 
Bản đồ Hà Nội 1890

Năm 1940, thành phố bị phát xít Nhật xâm chiếm và đến năm 1945 Hà Nội được giải phóng và là nơi đặt các cơ quan của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa. Từ 1946 đến 1954, Hà Nội là chiến địa ác liệt giữa Việt Minh và quân đội Pháp. Sau khi được giải phóng vào ngày 10 tháng 10 năm 1954, Hà Nội trở thành thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa.

Trong Chiến tranh Việt Nam, các công tŕnh giao thông của Hà Nội như cầu đường tàu bị bom đạn phá hủy, tuy nhiên ngay lập tức được sửa chữa. Trong thời gian này Hà Nội được xưng tụng là "Thủ đô của phẩm giá con người". Hà Nội trở thành thủ đô của toàn Việt Nam sau ngày Bắc Nam thống nhất 2 tháng 7 năm 1976.

Hà Nội c̣n có nhiều các tên gọi không chính thức khác, chủ yếu xuất hiện trong văn thơ và dân gian: Trường An hay Tràng An (lấy theo tên gọi của kinh đô của Trung Quốc thời kỳ nhà Hán nhà Đường); Phượng Thành hay Phụng Thành (trong bài phú của Nguyễn Giản Thanh); Long Thành, Long Biên, Kẻ Chợ (trong dân gian); Thượng Kinh, Kinh Kỳ, Hà Thành, Hoàng Diệu, ngay sau Cách mạng tháng Tám - 1945, đôi khi trong các báo chí của Việt Nam sử dụng tên này để chỉ Hà Nội.

Vùng đất quanh Hà Nội hiện đại hiện nay được biết đến ít nhất 3.000 TCN. Một trong những điều đầu tiên được biết đến là thành Cổ Loa được t́m thấy khoảng 200 TCN.

  • Năm 454-456: Huyện Tống B́nh (宋平) được thành lập.
  • 545: Huyện Tống B́nh được nâng cấp lên quận Tống B́nh, gồm 3 huyện: Nghĩa Hoài, Tuy Ninh ở bờ nam sông Hồng (đoạn Từ Liêm, Hoài Đức ngày nay), c̣n Xương Quốc ở bờ bắc (Đông Anh, Gia Lâm ngày nay). Quận trị là vùng nội thành hiện nay.
  • 621: Quận Tống B́nh bị hạ cấp xuống thành huyện. Huyện Tống B́nh cùng với 2 huyện Hoàng Giáo và Nam Định tạo thành Tống Châu.
  • 622: Huyện Tống B́nh tách 2 huyện Giao Chỉ và Hoài Đức.
  • 627: Hợp nhất các huyện Hoàng Giáo, Giao Chỉ và Hoài Đức thành huyện Tống B́nh, đặt trị sở của Giao Châu tại đây.
  • 767: Trương Bá Nghi đắp La Thành.
  • 866: Cao Biền xây thành Đại La.
  • 1010: Trở thành kinh đô Thăng Long. Khu vực dân ở bao quanh hoàng thành gọi là kinh thành, có tên là phủ Ứng Thiên, gồm 61 phường.
  • 1466: Mang tên phủ Trung Đô, gồm 2 huyện Vĩnh Xương và Quảng Đức, mỗi huyện có 18 phường, tổng cộng là 36 phường.
  • 1831: Minh Mạng lập ra tỉnh Hà Nội. Tỉnh Hà Nội lúc đó bao gồm 4 phủ: phủ Hoài Đức (gồm thành Thăng Long, huyện Từ Liêm của trấn Sơn Tây) và ba phủ Ứng Thiên, Thường Tín, Lư Nhân của trấn Sơn Nam[1].
  • 19/7/1888: Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội.
  • 1/10/1888, vua Đồng Khánh ra đạo dụ nhượng hẳn cho Pháp thành Hà Nội.
    Lúc này phần c̣n lại ở phía nam tỉnh Hà Nội cũ bị tách ra: phủ Lư Nhân thành tỉnh Hà Nam, Thường Tín Ứng Ḥa thành tỉnh Cầu Đơ sau đổi tên là tỉnh Hà Đông.
  • 14/7/1899: Thành lập "khu vực ngoại thành Hà Nội", gồm một số xă nằm ngoài địa giới thành phố Hà Nội, thuộc 2 phủ Hoài Đức và Thường Tín, do 1 đồn trưởng trực tiếp cai trị, dưới quyền Đốc lư Hà Nội.
  • 1904: Chia thành phố Hà Nội (nội thành) thành 8 hộ (quartier).
  • 10/12/1914: Đổi khu vực ngoại thành Hà Nội thành huyện Hoàn Long, thuộc tỉnh Hà Đông.
  • 25/8/1942: sáp nhập huyện Hoàn Long vào thành phố Hà Nội.
  • 31/12/1942: Thành lập "Đại lư đặc biệt Hà Nội", gồm huyện Hoàn Long cũ và 22 xă thuộc phủ Hoài Đức, trụ sở đặt tại ấp Thái Hà.
  • 22/11/1945: Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa quy định Hà Nội gồm 5 khu phố nội thành: Lăng Bạc, Đống Đa, Mê Linh, Đại La, Đề Thám và 120 xă ngoại thành.
  • 1945-1946: Chia Hà Nội thành 17 khu phố nội thành (Trúc Bạch, Đồng Xuân, Thăng Long, Đông Thành, Đông Kinh Nghĩa Thục, Hoàn Kiếm, Văn Miếu, Quán Sứ, Đại Học, Bảy Mẫu, Chợ Hôm, Ḷ Đúc, Hồng Hà, Long Biên, Đồng Nhân, Vạn Thái, Bạch Mai) và 5 khu hành chính ngoại thành (Lăng Bạc, Đại La, Đống Đa, Đề Thám, Mê Linh).
  • Năm 1954: Hà Nội khi tiếp quản gồm 4 quận nội thành (34 khu phố, 37.000 dân) và 4 quận ngoại thành (45 xă, 16.000 dân), đánh số từ I đến VIII, với diện tích 152 km². Ngày 13/12/1954, sáp nhập khu vực phố Gia Lâm (gồm phố Gia Lâm, khu nhà ga Gia Lâm, sân bay Gia Lâm, và 4 xă Hồng Tiến, Việt Hưng, Long Biên, Ngọc Thụy) của tỉnh Bắc Ninh vào Hà Nội.
  • 3/1958: Bỏ 4 quận nội thành, thay bằng 12 khu phố: Hoàn Kiếm, Hàng Cỏ, Hai Bà Trưng, Hàng Bông, Cửa Đông, Hàng Đào, Trúc Bạch, Văn Miếu, Ba Đ́nh, Bạch Mai, Bảy Mẫu, Ô Chợ Dừa.
  • 1959: chia lại thành 8 khu phố nội thành: Hoàn Kiếm, Hàng Cỏ, Hai Bà Trưng, Trúc Bạch, Ba Đ́nh, Đồng Xuân, Đống Đa, Bạch Mai và 4 quận ngoại thành (có 43 xă).
  • 20/4/1961: Tại Kỳ họp khóa II, kỳ 2, Quốc hội đă quyết định mở rộng Hà Nội (lần thứ nhất) với diện tích 584 km², 91.000 dân. Hà Nội sáp nhập 18 xă, 6 thôn và 1 thị trấn (Văn Điển) thuộc các huyện Đan Phượng, Hoài Đức, Thanh Tŕ (tỉnh Hà Đông); cả huyện Gia Lâm (gồm 15 xă), 14 xă khác và 1 thị trấn (Yên Viên) thuộc các huyện Từ Sơn, Tiên Du, Thuận Thành (tỉnh Bắc Ninh); cả huyện Đông Anh (gồm 16 xă), 1 xă thuộc huyện Yên Lăng và nửa thôn thuộc huyện Kim Anh (tỉnh Vĩnh Phúc); 1 xă thuộc huyện Văn Giang (tỉnh Hưng Yên).
  • 31/5/1961: Thành lập 4 khu phố nội thành (Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đ́nh, Đống Đa) và 4 huyện ngoại thành (Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Tŕ, Từ Liêm).
  • 21/12/1974: Thành lập các tiểu khu ở các khu nội thành, thay thế cho khối dân phố.
  • 12/1978: Sắp xếp lại các tiểu khu: khu Hoàn Kiếm có 18 tiểu khu, khu Ba Đ́nh có 15 tiểu khu, khu Đống Đa có 23 tiểu khu, khu Hai Bà Trưng có 22 tiểu khu, tổng cộng là 78 tiểu khu.
  • 29/12/1978: Quốc hội khóa VI, kỳ họp thứ 4 (tháng 12 năm 1978) đă quyết định mở rộng Thủ đô Hà Nội (lần thứ hai) với diện tích đất tự nhiên là 2.136 km², dân số 2,5 triệu người gồm bốn khu phố nội thành, một thị xă và 11 huyện ngoại thành. Hà Nội lấy thêm 5 huyện và 1 thị xă của tỉnh Hà Sơn B́nh (Ba V́, Thạch Thất, Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức, thị xă Sơn Tây), 2 huyện của tỉnh Vĩnh Phú (Mê Linh, Sóc Sơn).
  • 6/1981: Đổi khu thành quận và tiểu khu thành phường.
  • 12/8/1991: Tháng 8/1991, Quốc hội khóa VIII, tại kỳ thứ 9, ranh giới thành phố Hà Nội được điều chỉnh. Trả 5 huyện và 1 thị xă đă lấy năm 1978 cho tỉnh Hà Tây và 1 huyện (Mê Linh) cho tỉnh Vĩnh Phú, c̣n bốn quận nội thành và năm huyện ngoại thành, với diện tích đất tự nhiên 924 km².
  • 10/1995: Lập quận Tây Hồ
  • 11/1996: Lập quận Cầu Giấy
  • 11/2003: Lập 2 quận Long Biên Hoàng Mai.
  • Năm 2005, Hà Nội có gần 3,2 triệu người, vượt 3% so với dự báo, đạt mật độ dân số trên 3.450 người/km², gấp trên 100 lần so với mật độ chuẩn thế giới.
  • Năm 2007, dân số Hà Nội tăng thêm 138.100 người đạt 3.398.889 nhân khẩu với 784.881 hộ, tăng 3,5% so với năm 2006[3].
  • Từ 1 tháng 8 năm 2008, địa giới Hà Nội được mở rộng bao gồm thêm toàn bộ tỉnh Hà Tây, toàn bộ huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc, và 4 xă Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên B́nh và Yên Trung của huyện Lương Sơn, tỉnh Ḥa B́nh. Diện tích mở rộng lên 3.344,47 km², với dân số 6,23 triệu người. Sau khi sáp nhập, Hà Nội trở thành 1 trong 17 thành phố, thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới.

 

 

 

 

Tour khởi hành từ Hà nội

Tour Tham quan Hà nội

Tour Hạ long - Cát Bà

Tour Sapa - Bắc Hà

Thăm chiến trường xưa

Di sản Miền Trung

Nha Trang - Đà Lạt - Mũi Né

Hành tŕnh Xuyên Việt

 
 
 

 

 

 

TRANG CHỦ

    GIỚI THIỆU      LIÊN HỆ TÀI TRỢ  TIN TỨC DU LỊCH    

 LINKS

   © Copyright Công ty Cổ phần Tập đoàn NTT    
Cruise Halong | Vietnam Cheap Tours | Viajar a Vietnam | Du lịch Cao Cấp | Tour Du lịch | Du lịch Việt Nam | Vietnam Viajes | Vietnam Hotels | Vé tàu hỏa
Vé tàu Sapa | Du lịch Tây Nguyên | Dịch Vụ Cho thuê xe | Hanoi Travel | Ohayo Tours