|
|
 |
|
|
 |
|
Thành phố Hà Nội
Diện tích:
3.324,92km²
Dân số (8/2008): 6.232,9
ngh́n người
Các quận/huyện:
- 9 Quận:
Hoàn Kiếm, Ba Đ́nh, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Tây Hồ, Thanh
Xuân, Cầu Giấy, Long Biên, Hoàng Mai.
- 2 thành phố:
Hà Đông, Sơn Tây.
- 18 huyện:
Đông Anh, Sóc Sơn, Thanh Tŕ, Từ Liêm, Gia Lâm (Hà Nội cũ);
Ba V́, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên,
Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng
Ḥa (Hà Tây cũ) và Mê Linh (từ Vĩnh Phúc).
Dân tộc:
Việt (Kinh), Hoa, Mường, Tày, Dao...
Hà Nội là Thủ đô của nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam |
|
Điều kiện tự nhiên
 |
| Toàn cảnh Hồ Hoàn Kiếm |
Vị trí địa lư:
Hà Nội nằm ở đồng bằng Bắc bộ, tiếp giáp với các tỉnh: Thái
Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía bắc; phía nam giáp Hà Nam và Hoà
B́nh; phía đông giáp các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng
Yên; phía tây giáp tỉnh Hoà B́nh và Phú Thọ.
Hà Nội nằm ở phía hữu ngạn sông Đà và hai bên sông Hồng, vị
trí và địa thế thuận lợi cho một trung tâm chính trị, kinh
tế, vǎn hoá, khoa học và đầu mối giao thông quan trọng của
Việt Nam.
 |
| Hồ Tây |
Khí hậu:
Khí hậu Hà Nội khá tiêu biểu cho kiểu khí hậu Bắc bộ với đặc
điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa ấm, mùa hè nóng, mưa
nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít. Nằm trong vùng nhiệt đới, Hà
Nội quanh nǎm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời rất dồi
dào và có nhiệt độ cao. Lượng bức xạ tổng cộng trung b́nh
hàng nǎm ở Hà Nội là 122,8 kcal/cm2 và nhiệt độ
không khí trung b́nh hàng nǎm là 23,6ºC. Do chịu ảnh hưởng
của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn. Độ ẩm tương
đối trung b́nh hàng nǎm là 79%. Lượng mưa trung b́nh hàng
nǎm là 1.800mm và mỗi nǎm có khoảng 114 ngày mưa. Đặc điểm
khí hậu Hà Nội rơ nét nhất là sự thay đổi và khác biệt của
hai mùa nóng, lạnh. Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và
mưa. Nhiệt độ trung b́nh mùa này là 29,2ºC. Từ tháng 11 đến
tháng 3 nǎm sau là mùa đông thời tiết khô ráo. Nhiệt độ
trung b́nh mùa đông 15,2ºC. Giữa hai mùa đó lại có hai thời
kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10) cho nên Hà Nội có đủ
bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Bốn mùa thay đổi làm cho thời
tiết Hà Nội mùa nào cũng có vẻ đẹp riêng. Mùa tham quan du
lịch thích hợp nhất ở Hà Nội là mùa thu. Phần địa h́nh của
Hà Tây (cũ) sáp nhập với Hà Nội, có những đặc điểm riêng nên
h́nh thành những tiểu vùng khí hậu: vùng núi, vùng g̣ đồi và
đồng bằng. Nhưng nói chung sự khác biệt thời tiết và chênh
lệch về nhiệt độ giữa các địa phương của Hà Nội hiện nay
không lớn.
 |
| Hồ Thủ Lệ |
Địa h́nh:
Hà Nội có hai dạng địa h́nh chính là đồng bằng và đồi núi.
Địa h́nh đồng bằng chủ yếu thuộc địa phận Hà Nội cũ và một
số huyện phía đông của Hà Tây (cũ), chiếm khoảng 3/4 diện
tích tự nhiên, nằm bên hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng
và chi lưu các sông. Phần lớn địa h́nh đồi núi thuộc địa
phận các huyện Sóc Sơn, Ba V́, Quốc Oai, Mỹ Đức. Một số đỉnh
núi cao như: Ba V́ 1.281m; Gia Dê 707m; Chân Chim 462m;
Thanh Lanh 427m; Thiên Trù 378m; Bà Tượng 334m; Sóc Sơn
308m; Núi Bộc 245m; Dục Linh 294m…
Sông ng̣i:
Hà Nội nằm cạnh hai con sông lớn ở miền Bắc:
sông Đà và sông Hồng. Sông Hồng dài 1.183km từ Vân Nam (Trung
Quốc) xuống. Đoạn sông Hồng qua Hà Nội dài 163km (chiếm
khoảng 1/3 chiều dài trên đất Việt Nam, khoảng 550km. Ngoài
hai con sông lớn, trên địa phận Hà Nội c̣n có các sông:
Đuống, Cầu, Cà Lồ, Đáy, Nhuệ, Tích, Tô Lịch, Kim Ngưu, Bùi.
Hồ đầm ở địa bàn Hà Nội có nhiều. Những hồ nổi tiếng ở nội
thành Hà Nội như hồ Tây, Trúc Bạch, Hoàn Kiếm, Thiền Quang,
Bảy Mẫu. Hàng chục hồ đầm thuộc địa phận Hà Nội cũ: hồ Kim
Liên, hồ Liên Đàm, đầm Vân Tŕ... và nhiều hồ lớn thuộc địa
phận Hà Tây (cũ): Ngải Sơn - Đồng Mô, Suối Hai, Mèo Gù, Xuân
Khanh, Tuy Lai, Quan Sơn...
Dân cư
 |
| Chợ hoa ngày tết |
Theo số liệu 1/4/1999 cư dân Hà Nội và Hà Tây (cũ)
chủ yếu là người dân tộc Việt (Kinh) chiếm tỷ lệ 99,1%; các
dân tộc khác: Dao, Mường, Tày chiếm 0,9%. Năm 2006 cũng trên
địa bàn Hà Nội và Hà Tây (cũ) cư dân đô thị chiếm tỷ lệ
41,1% và cư dân nông thôn là 58,1%; tỷ lệ nữ chiếm 50,7% và
nam là 49,3%. Mật độ dân cư b́nh
quân hiện nay trên toàn thành phố là 1875 người/km2,
cư dân sản xuất nông nghiệp khoảng 2,5 triệu người.
Giao thông
Từ thủ đô
Hà Nội, có thể đi khắp mọi miền đất nước bằng các loại
phương tiện giao thông đều thuận tiện.
Đường không:
sân bay quốc tế Nội Bài (nằm ở địa phận huyện Sóc Sơn, cách
trung tâm Hà Nội chừng 35km). Sân bay Gia Lâm, vốn là sân
bay chính của Hà Nội từ trước những năm 70 thế kỷ 20. Bây
giờ là sân bay trực thăng phục vụ bay dịch vụ, trong đó có
dịch vụ du lịch.
 |
| Giao thông |
Đường bộ:
Xe ô tô
khách liên tỉnh xuất phát từ các bến xe Phía Nam, Gia Lâm,
Lương Yên, Nước Ngầm, Mỹ Đ́nh toả đi khắp mọi miền trên toàn
quốc theo các quốc lộ 1A xuyên Bắc - Nam; quốc lộ 2 đi Vĩnh
Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang; quốc lộ 3 đi Thái
Nguyên, Cao Bằng; quốc lộ 5 đi Hải Pḥng, Quảng Ninh; quốc
lộ 6 đi Hoà B́nh, Sơn La, Lai Châu…
Đường sắt:
Hà Nội là đầu mối giao thông của 5 tuyến đường sắt trong
nước. Có đường sắt liên vận sang Bắc Kinh (Trung Quốc),
đi nhiều nước châu Âu.
Đường thuỷ:
Hà Nội là đầu mối giao thông quan trọng với bến Phà Đen đi
Hưng Yên, Nam Định, Thái B́nh, Việt Tŕ; bến Hàm Tử Quan đi
Phả Lại.
Văn
hóa – Du lịch
Hà Nội
hiện có trên 4.000 di tích và danh thắng, trong đó được xếp
hạng quốc gia trên 1.000 di tích và danh thắng (hàng trăm di
tích, danh thắng mới được sáp nhập từ Hà Tây và Mê Linh) với
hàng trăm đền, chùa, công tŕnh kiến trúc, danh thắng nổi
tiếng.
Hà Nội là
một trung tâm du lịch lớn ở Việt
Nam. Du khách có dịp khám
phá nhiều công tŕnh kiến trúc văn hóa - nghệ thuật xây dựng
qua nhiều thế hệ, trong suốt quá tŕnh dựng nước và giữ nước.
Những danh thắng tự nhiên đẹp và quyến rũ; những làng nghề
thủ công tồn tại hàng trăm năm; những lễ hội truyền thống -
sản phẩm văn hóa kết tinh nhiều giá trị tinh thần... sẽ là
những sản phẩm du lịch hấp dẫn.
Không
phải Hà Nội vào cuối thế kỷ 20 mới có được bấy nhiêu điều
kiện thuận lợi mà từ lâu, từ ngày vua Lư Thái Tổ dời đô từ
Hoa Lư (Ninh B́nh) về Đại La để lập kinh đô Thăng Long vào
tháng bảy năm Canh Tuất (1010), trong "Chiếu dời đô", vị vua
khai sáng triều Lư (1010-1225) đồng thời khai sáng cho Thăng
Long - Hà Nội đă chỉ ra. |
|
| Nguồn: Tổng cục Du lịch |
| |
| |
Tên gọi
Hà Nội đă trải qua nhiều tên gọi khác nhau trong lịch sử. Trong thời
kỳ cai trị của người Trung Quốc nó từng có tên là huyện Tống B́nh,
xuất hiện trong sử sách từ những năm 454-456 thời Nam Bắc triều của
Trung Quốc.
Năm 545, Lư Bí đánh thắng quân nhà Lương lập nên nước Vạn Xuân độc
lập. Ông tự xưng Lư Nam Đế, định đô ở miền cửa sông Tô Lịch, Hà Nội. Ông
cho lập điện Vạn Thọ là nơi họp bàn việc nước. Lư Nam Đế cũng cho dựng
một ngôi chùa lớn ở phường Yên Hoa (Yên Phụ) tên là Khai Quốc, tiền thân
của Chùa Trấn Quốc ngày nay.
Thời kỳ bị phương Bắc độ hộ: nhà Tùy (581-618), nhà Đường (618-907),
trị sở ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay), tới đời Tùy chúng mới
chuyển đến Tống B́nh, tức Hà Nội.
Thành cũng c̣n có tên là Đại La. Sách Khâm định Việt sử
Thông giám Cương mục có viết:
- "Thành này do Trương Bá Nghi đắp từ năm Đại Lịch thứ 2 (767)
đời
Đường; năm Trinh Nguyên thứ 7 (791),
Triệu Xương đắp thêm; năm Nguyên Ḥa thứ 3 (808),
Trương Chu lại sửa đắp lại; năm Trường Khánh thứ 4 (824),
Lư Nguyên Gia dời phủ trị tới bên
sông Tô Lịch, đắp một cái thành nhỏ, gọi là La Thành; năm
Hàm Thông thứ 7 (866),
Cao
Biền đắp ngoại thành bao quanh "kim thành", cũng gọi tên là La
Thành."
Đại La, hay Đại La thành, nguyên là tên ṿng thành ngoài cùng bao bọc
lấy ṿng thành nhỏ hơn ở trong, gọi là Kinh Đô hay kim thành.
Theo kiến trúc xưa, Kinh Đô thường có "Tam trùng thành quách": trong
cùng là Tử Cấm thành (tức bức thành màu đỏ tía) nơi vua và hoàng tộc ở,
giữa là Kinh thành và ngoài cùng là Đại La thành. Năm 866 Cao Biền bồi
đắp thêm Đại La thành rộng hơn và vững chăi hơn trước. Từ đó, thành này
được gọi là thành Đại La. Thí dụ trong Chiếu dời đô của vua Lư
Thái Tổ viết năm 1010 có viết: "... Huống chi thành Đại La, đô cũ của
Cao Vương (tức Cao Biền) ở giữa khu vực trời đất..." (Toàn thư, Tập I,
H, 1993, tr 241).
Long Đỗ (rốn rồng) cũng là một tên gọi của Hà Nội, nhưng không
phải tên gọi chính thức, tên gọi này xuất hiện từ thời Cao Biền. Truyền
thuyết kể rằng, vào năm 866, khi Cao Biền mới đắp thành Đại La, thấy
thần nhân hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ. Do đó trong sử sách thường
gọi Thăng Long là đất Long Đỗ.
Khi
Việt Nam giành được độc lập, Hà Nội lúc đó trở thành thủ đô của
Đại Việt từ
thế kỷ thứ 11, với tên gọi
Thăng Long (昇龍, có nghĩa là "rồng bay lên"), sau khi
Lư Công Uẩn ra
chiếu dời đô năm
1010 từ
Hoa Lư. Đây được xem là mốc son đánh dấu sự phát triển của thủ đô Hà
Nội
Việt Nam. Thăng Long là thủ đô cho đến năm
1397, khi thủ đô được di chuyển về
Thanh
Hóa, (tức Tây Đô). Thăng Long khi đó có tên gọi là
Đông Đô.
Sách Đại Việt sử kư toàn thư cho biết:
- "Mùa hạ tháng 4 năm Đinh Sửu (1397) lấy Phó tướng Lê Hán
Thương (tức Hồ Hán Thương - TM) coi phủ đô hộ là Đông Đô" (Toàn
thư Sđd - tr 192).
Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sử thần nhà
Nguyễn chú thích:
- "Đông Đô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hoá là Tây Đô,
Thăng Long là Đông Đô" (Cương mục - Tập 2, H 1998, tr 700).
Năm
1408, nước
Đại Ngu của cha con họ
Hồ bị
quân đội của
nhà
Minh xâm chiếm và Đông Đô bị người Minh đổi tên thành Đông Quan.
Năm
1428, sau khi quân đội của
Lê Lợi giải phóng đất nước th́ Đông Quan được đổi tên thành Đông
Kinh - tên gọi này người
châu Âu
phiên âm thành
Tonkin. Sách Đại Việt sử kư toàn thư cho biết sự ra đời của
cái tên này như sau:
- "Mùa hạ, tháng 4 năm Đinh Mùi (1427), Vua (tức Lê Lợi - TM)
từ điện tranh ở Bồ Đề, vào đóng ở thành Đông Kinh, đại xá đổi niên
hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Đại Việt đóng đô ở Đông Kinh.
Ngày 15 vua lên ngôi ở Đông Kinh, tức là thành Thăng Long. V́ Thanh
Hóa có Tây Đô, cho nên gọi thành Thăng Long là Đông Kinh" (Toàn
thư - Sđd. Tập 2, tr 293).
Thời
Tây Sơn, v́ kinh đô đóng ở Phú Xuân thành c̣n có tên là Bắc Thành.
Năm 1802,
khi nhà Nguyễn chuyển kinh đô về
Huế, nó lại
được đổi tên thành Thăng Long, nhưng lần này chữ "Long" (隆) biểu hiện
cho sự thịnh vượng, chứ không phải là
rồng, với
lư do rằng rồng là tượng trưng cho nhà vua, nay vua không ở đây th́
không được dùng chữ "Long" là "rồng" (Trần Huy Liệu (chủ biên), Lịch sử
thủ đô Hà Nội, H. 1960, tr 81).
Sau đó vua
Gia
Long c̣n hạ lệnh phá bỏ hoàng thành cũ, v́ vua không đóng đô ở Thăng
Long, mà hoàng thành Thăng Long lại rộng quá.
Năm
1831 vua
Minh
Mạng lập ra tỉnh Hà Nội: tỉnh nằm trong (Nội) hai con sông
(Hà) là
sông
Hồng và
sông
Đáy.
Khi Việt Nam tiếp xúc với
phương Tây, tên
Hán-Việt của Hà Nội
Đông
Kinh, được viết thành
Tonkin và được người
châu Âu
dùng phổ biến. Năm
1873,
người Pháp bắt đầu tiến đánh Hà Nội và 10 năm sau th́ chiếm toàn bộ.
Từ năm 1887,
Hà Nội trở thành thủ phủ của
Đông Dương thuộc
Pháp.
Năm 1940,
thành phố bị phát xít
Nhật xâm chiếm và đến năm
1945 Hà Nội
được giải phóng và là nơi đặt các cơ quan của Chính phủ nước
Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa. Từ
1946 đến
1954, Hà
Nội là chiến địa ác liệt giữa
Việt
Minh và quân đội
Pháp. Sau
khi được giải phóng vào ngày
10 tháng 10 năm
1954, Hà
Nội trở thành thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa.
Trong
Chiến tranh Việt Nam, các
công tŕnh giao thông của Hà Nội như
cầu và
đường tàu bị
bom đạn
phá hủy, tuy nhiên ngay lập tức được sửa chữa. Trong thời gian này Hà
Nội được xưng tụng là "Thủ đô của phẩm giá con người". Hà Nội trở thành
thủ đô của toàn Việt Nam sau ngày Bắc Nam thống nhất
2
tháng 7 năm
1976.
Hà Nội c̣n có nhiều các tên gọi không chính thức khác, chủ yếu xuất
hiện trong văn thơ và dân gian: Trường An hay Tràng An (lấy
theo tên gọi của kinh đô của
Trung Quốc thời kỳ
nhà Hán
và
nhà Đường); Phượng Thành hay Phụng Thành (trong bài
phú của
Nguyễn Giản Thanh); Long Thành, Long Biên, Kẻ Chợ
(trong dân gian); Thượng Kinh, Kinh Kỳ, Hà Thành,
Hoàng Diệu, ngay sau
Cách mạng tháng Tám - 1945, đôi khi trong các báo chí của Việt Nam
sử dụng tên này để chỉ Hà Nội.
Vùng đất quanh Hà Nội hiện đại hiện nay được biết đến ít nhất 3.000
TCN. Một trong những điều đầu tiên được biết đến là
thành Cổ Loa được t́m thấy khoảng 200 TCN.
- Năm 454-456: Huyện Tống B́nh (宋平) được thành lập.
- 545: Huyện Tống B́nh được nâng cấp lên quận Tống B́nh, gồm 3
huyện:
Nghĩa Hoài,
Tuy Ninh ở bờ nam sông Hồng (đoạn
Từ
Liêm,
Hoài Đức ngày nay), c̣n
Xương Quốc ở bờ bắc (Đông
Anh,
Gia
Lâm ngày nay). Quận trị là vùng nội thành hiện nay.
- 621: Quận Tống B́nh bị hạ cấp xuống thành huyện. Huyện Tống B́nh
cùng với 2 huyện Hoàng Giáo và Nam Định tạo thành Tống Châu.
- 622: Huyện Tống B́nh tách 2 huyện Giao Chỉ và Hoài Đức.
- 627: Hợp nhất các huyện Hoàng Giáo, Giao Chỉ và Hoài Đức thành
huyện Tống B́nh, đặt trị sở của Giao Châu tại đây.
- 767: Trương Bá Nghi đắp La Thành.
- 866: Cao Biền xây thành Đại La.
- 1010: Trở thành kinh đô Thăng Long. Khu vực dân ở bao quanh
hoàng thành gọi là kinh thành, có tên là phủ Ứng Thiên, gồm 61
phường.
- 1466: Mang tên phủ Trung Đô, gồm 2 huyện Vĩnh Xương và Quảng Đức,
mỗi huyện có 18 phường, tổng cộng là 36 phường.
- 1831:
Minh Mạng lập ra tỉnh Hà Nội.
Tỉnh Hà Nội lúc đó bao gồm 4 phủ: phủ Hoài Đức (gồm thành Thăng
Long, huyện Từ Liêm của trấn
Sơn
Tây) và ba phủ
Ứng Thiên,
Thường Tín,
Lư
Nhân của trấn
Sơn Nam[1].
- 19/7/1888:
Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội.
- 1/10/1888, vua
Đồng Khánh ra đạo dụ nhượng hẳn cho Pháp thành Hà Nội.
- Lúc này phần c̣n lại ở phía nam tỉnh Hà Nội cũ bị tách ra:
phủ
Lư Nhân thành tỉnh
Hà
Nam,
Thường Tín và
Ứng Ḥa thành tỉnh
Cầu Đơ sau đổi tên là tỉnh
Hà Đông.
- 14/7/1899: Thành lập "khu vực ngoại thành Hà Nội", gồm một số xă
nằm ngoài địa giới thành phố Hà Nội, thuộc 2 phủ Hoài Đức và Thường
Tín, do 1 đồn trưởng trực tiếp cai trị, dưới quyền Đốc lư Hà Nội.
- 1904: Chia thành phố Hà Nội (nội thành) thành 8 hộ (quartier).
- 10/12/1914: Đổi khu vực ngoại thành Hà Nội thành huyện Hoàn
Long, thuộc
tỉnh Hà Đông.
- 25/8/1942: sáp nhập huyện Hoàn Long vào thành phố Hà Nội.
- 31/12/1942: Thành lập "Đại lư đặc biệt Hà Nội", gồm huyện Hoàn
Long cũ và 22 xă thuộc phủ Hoài Đức, trụ sở đặt tại ấp Thái Hà.
- 22/11/1945: Chính quyền
Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa quy định Hà Nội gồm 5
khu phố nội thành:
Lăng Bạc,
Đống Đa,
Mê Linh,
Đại La,
Đề Thám và 120 xă ngoại thành.
- 1945-1946: Chia Hà Nội thành 17 khu phố nội thành (Trúc
Bạch,
Đồng Xuân,
Thăng Long,
Đông Thành,
Đông Kinh Nghĩa Thục,
Hoàn Kiếm,
Văn Miếu,
Quán Sứ,
Đại Học,
Bảy Mẫu,
Chợ Hôm,
Ḷ Đúc,
Hồng Hà,
Long Biên,
Đồng Nhân,
Vạn Thái,
Bạch Mai) và 5 khu hành chính ngoại thành (Lăng Bạc, Đại La,
Đống Đa, Đề Thám, Mê Linh).
- Năm 1954: Hà Nội khi tiếp quản gồm 4 quận nội thành (34 khu phố,
37.000 dân) và 4 quận ngoại thành (45 xă, 16.000 dân), đánh số từ I
đến VIII, với diện tích 152 km². Ngày 13/12/1954, sáp nhập khu vực
phố Gia Lâm (gồm phố Gia Lâm, khu nhà ga Gia Lâm, sân bay Gia Lâm,
và 4 xă Hồng Tiến, Việt Hưng, Long Biên, Ngọc Thụy) của tỉnh Bắc
Ninh vào Hà Nội.
- 3/1958: Bỏ 4 quận nội thành, thay bằng 12 khu phố: Hoàn Kiếm,
Hàng Cỏ, Hai Bà Trưng, Hàng Bông, Cửa Đông, Hàng Đào, Trúc Bạch, Văn
Miếu, Ba Đ́nh, Bạch Mai, Bảy Mẫu, Ô Chợ Dừa.
- 1959: chia lại thành 8 khu phố nội thành: Hoàn Kiếm, Hàng Cỏ,
Hai Bà Trưng, Trúc Bạch, Ba Đ́nh, Đồng Xuân, Đống Đa, Bạch Mai và 4
quận ngoại thành (có 43 xă).
- 20/4/1961: Tại Kỳ họp khóa II, kỳ 2, Quốc hội đă quyết định mở
rộng Hà Nội (lần thứ nhất) với diện tích 584 km², 91.000 dân. Hà Nội
sáp nhập 18 xă, 6 thôn và 1 thị trấn (Văn Điển) thuộc các huyện
Đan Phượng,
Hoài Đức, Thanh Tŕ (tỉnh
Hà Đông); cả huyện Gia Lâm (gồm 15 xă), 14 xă khác và 1 thị trấn
(Yên Viên) thuộc các huyện
Từ Sơn,
Tiên
Du,
Thuận Thành (tỉnh
Bắc
Ninh); cả huyện Đông Anh (gồm 16 xă), 1 xă thuộc huyện
Yên Lăng và nửa thôn thuộc huyện
Kim Anh (tỉnh
Vĩnh Phúc); 1 xă thuộc huyện
Văn Giang (tỉnh
Hưng Yên).
- 31/5/1961: Thành lập 4 khu phố nội thành (Hoàn
Kiếm,
Hai Bà Trưng,
Ba
Đ́nh,
Đống
Đa) và 4 huyện ngoại thành (Đông
Anh,
Gia
Lâm,
Thanh Tŕ,
Từ
Liêm).
- 21/12/1974: Thành lập các tiểu khu ở các khu nội thành, thay thế
cho khối dân phố.
- 12/1978: Sắp xếp lại các tiểu khu: khu Hoàn Kiếm có 18 tiểu khu,
khu Ba Đ́nh có 15 tiểu khu, khu Đống Đa có 23 tiểu khu, khu Hai Bà
Trưng có 22 tiểu khu, tổng cộng là 78 tiểu khu.
- 29/12/1978: Quốc hội khóa VI, kỳ họp thứ 4 (tháng 12 năm 1978)
đă quyết định mở rộng Thủ đô Hà Nội (lần thứ hai) với diện tích đất
tự nhiên là 2.136 km², dân số 2,5 triệu người gồm bốn khu phố nội
thành, một thị xă và 11 huyện ngoại thành. Hà Nội lấy thêm 5 huyện
và 1 thị xă của tỉnh
Hà Sơn B́nh (Ba
V́,
Thạch Thất,
Phúc Thọ,
Đan Phượng,
Hoài Đức,
thị xă Sơn Tây), 2 huyện của tỉnh
Vĩnh Phú (Mê
Linh,
Sóc
Sơn).
- 6/1981: Đổi khu thành quận và tiểu khu thành phường.
- 12/8/1991: Tháng 8/1991, Quốc hội khóa VIII, tại kỳ thứ 9, ranh
giới thành phố Hà Nội được điều chỉnh. Trả 5 huyện và 1 thị xă đă
lấy năm 1978 cho tỉnh Hà Tây và 1 huyện (Mê Linh) cho tỉnh Vĩnh Phú,
c̣n bốn quận nội thành và năm huyện ngoại thành, với diện tích đất
tự nhiên 924 km².
- 10/1995: Lập
quận Tây Hồ
- 11/1996: Lập
quận Cầu Giấy
- 11/2003: Lập 2
quận Long Biên và
Hoàng Mai.
- Năm 2005, Hà Nội có gần 3,2 triệu người, vượt 3% so với dự báo,
đạt mật độ dân số trên 3.450 người/km², gấp trên 100 lần so với mật
độ chuẩn thế giới.
- Năm 2007, dân số Hà Nội tăng thêm 138.100 người đạt 3.398.889
nhân khẩu với 784.881 hộ, tăng 3,5% so với năm 2006[3].
- Từ 1 tháng 8 năm 2008, địa giới Hà Nội được mở rộng bao gồm thêm
toàn bộ tỉnh
Hà Tây,
toàn bộ huyện
Mê
Linh, tỉnh
Vĩnh Phúc, và 4 xă Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên B́nh và Yên Trung
của huyện
Lương Sơn, tỉnh
Ḥa
B́nh. Diện tích mở rộng lên 3.344,47 km², với dân số 6,23 triệu
người. Sau khi sáp nhập, Hà Nội trở thành 1 trong 17 thành phố, thủ
đô có diện tích lớn nhất thế giới.
|
| |
|
| |
|
 |
|