|
Hội An trước
đây đă nổi tiếng với thú đá gà, thả diều, chơi cây cảnh, câu
cá, bài cḥi; bài kiệu; ḥ khoan đối đáp...
|
 |
|
Cùng với các
thú vui chơi giải trí là thú ẩm thực. Ăn uống là nhu cầu tất
yếu của con người nhưng một khi thông qua sự lựa chọn, chế
biến và sắm đặt của con người, nó trở thành một vấn đề văn
hóa.
Từ góc độ này,
có thể nói rằng, cư dân Hội An trải qua quá tŕnh phát triển
lịch sử đă tạo nên một thói quan ẩm thực mang những nét
riêng.
Nét riêng này thể hiện trước hết ở việc sử dụng hợp lư các
sản vật có sẵn tại địa phương vào bữa ăn thường ngày.
Trong các bữa
ăn của cư dân Hội An thành phần các chất từ tôm, cua, cá,
rau quả chiếm tỷ lệ nhiều hơn các loại thịt, mỡ. Nét riêng
này thể hiện ở một số món ăn đặc sản của địa phương như Cao
lầu, Phở (Phố hội), mắm dảnh (Cẩm An). Bánh tráng đập; Chè
bắp; Hến trộn (Cẩm Nam); Ḿ Quảng (Cẩm Hà, Cẩm Châu) rau
sống, tam (tôm) hữu (Trà Quế)... |
 |
|
Sự phong phú
về chủng loại các món ăn cũng là một nét độc đáo trong nắp
ẩm thực của cư dân Hội An. Tại Hội An bên cạnh các món ăn
truyền thống của người Việt, c̣n có các món ăn ảnh hưởng từ
Trung Hoa như món bánh bao, lục tàu xá, xí mà, lương phảnh;
hoành thánh, bánh quai vạc, cơm Dương Châu, bún gạo, khoai
nhục Phúc Kiến, nậm nhự x́ dầu, hoặc các món ăn của môt số
nước khác như cải (ấn Độ), bi-tết, ốp-la (phương Tây)... Kèm
theo các món ăn này là một số thức uống có sẵn hoặc chế biến
tại địa phương như nước dừa, nước chè, nước đậu ván, sữa đậu
nành, rượu nếp, nước lá Lao... |
 |
|
Kinh nghiệm
trong việc chế biến thức ăn, chế biến các món ăn đặc sản của
người dân Hội An khá phong phú và có những bí quyết riêng.
Chỉ riêng với việc dùng dầu để chế biến, người Hội An cũng
đă phân thành các cấp độ khác nhau như Chiên, xào, um, chấy,
ram.
Cùng với việc
phong phú về chủng loại món ăn, bề dày truyền thống về kinh
nghiệm chế biến, người Hội An cũng đă tạo nên những thói
quen ẩm thực mang tính văn hóa. Bên cạnh nhu cầu ăn no,
người Hội An cũng đă tiến đến việc ăn sao cho ngon, cho lịch
sự. Điều này được phản ảnh trong một số đơn vị ca dao, tục
ngữ của địa phương |
 |
|
Muốn đạt được
yêu cầu ngon, lịch sự, rơ ràng không chỉ dựa vào các món ăn
mà đ̣i hỏi phải giải quyết tốt, đồng bộ các yếu tố
liên quan đến địa điểm, thời điểm ăn uống, cách tŕnh bày,
bố trí món ăn; thái độ của người cùng ăn, của người phục vụ...
Trong quá khứ,
cư dân Hội An đă vận dụng hợp lư các yếu tố này; đă tạo ra
một số món ăn thích hợp cho từng thời điểm trong ngày; đă có
cách bố trí hàng quán; gánh hàng đẹp mắt, có thái độ đón
tiếp, phục vụ niềm nở, chu đáo do vậy đă chiếm được cảm t́nh,
sự mếm mộ của những người đă một lần đến và thưởng thức các
món ăn Hội An. |
 |
|
|
ẨM THỰC HỘI AN
Trong kho tàng văn hoá phi vật thể ở Hội An, ẩm thực đóng một vai
tṛ rất quan trọng, nó góp phần hữu h́nh hoá Hội An, làm cho Hội An
trở nên gần gũi, khó quên trong ḷng người dân địa phương và để lại
những ấn tượng sâu sắc đối với du
khách.
Nhà văn Thạch Lam, người có quan hệ gắn bó ruột thịt với
Hội An, đă có lư khi viết rằng: " Muốn biết rơ một thành phố không
cần phải biết những lâu đài mỹ thuật, những bảo tàng, những tờ báo
hay những nhà văn, nhưng cần phải biết những chốn mà dân thành phố
ấy ăn chơi. Ăn và chơi đó là hai điểm hành động mà trong ấy người ta
tỏ rơ cái tâm tính; cái linh hồn ḿnh một cách chân thực nhất".
"Hội An trăm vật trăm ngon
Từ từ lỗ miệng cho chồng con được nhờ"
Hoặc
"Nửa đêm gà gáy o o...
Đi chưa tới chợ đă lo ăn hàng"
Thực tế Hội An đă từng hấp dẫn bao "tao nhân mặt khách" bởi những
món ăn đặc biệt dân giả nhưng không kém phần sang trọng.
BÁNH BAO, BÁNH VẠC
Bánh bao và bánh vạc thường đi đôi với nhau. Chúng giống nhau ở chỗ
là nguyên liệu chính làm bằng bột gạo và nhân (nhưn) của chúng khác
nhau.
Trước hết là mua gạo thơm ngon, làm sạch gạo xong cho
vào ngâm nước, sau đó xay thành bột. Yêu cầu nước phải trong, không
nhiễm mặn, nhiễm phèn. Ở Hội An, người ta thường dùng nước từ giếng
Bá Lễ-một trong những giếng cổ có nước nước quanh năm, trong vắt.
Người ta phải ḅng bột từ 15-20 lần.
Cùng với việc làm bột, người thợ tiến hành làm nhưn bánh.
Làm nhưn bánh được chia làm 2 giai đoạn: nhưn bánh bao và nhưn bánh
vạc.
Nguyên liệu chính của bánh bao là tôm và gia vị. Tôm
nước lợ thơm ngon, bỏ vỏ, rửa sạch cho vào cối giă thành chả. Gia vị
gồm hành, tiêu, vị tinh, muối. Tất cả được pha trộn vào nhau và quết
trong cối nhiều lần để tôm và gia vị thấm đều.
Nguyên liệu của bánh vạc có khác và đa dạng hơn gồm giá
hột, nấm mèo, măng tre, lá hành xắt nhỏ, thịt heo thái thành hạt
lựu. Tất cả hỗn hợp nhưn này được cho vào xoong cùng với gia vị như
nước mắm, vị tinh, muối và xào thật chín.
Bột đă xong, nhưn đă chín. Người ta để chén dầu phộng
bên cạnh và bắt đầu chế biến bánh.
Người ta chấm hai ngón tay vào dầu rồi thoa đều lên hai
bàn tay. Lấy một ít bột vê đều, ấn ngón tay vào giữa cục bột, các
ngón tay khéo léo nắn bánh thành từng miếng thật mỏng, đều. Sau đó
dùng th́a múc một ít nhưn chả tôm đặt ngay ngắn vào giữa. Một tay
nâng nhẹ bánh tay kia dùng các ngón nắn phần trên tạo dáng cách
điệu như những cánh hoa hồng. Bánh hấp trong 10-15 phút là chín.
Cuối cùng răi hành được khử và trăi lên bánh. Những chiếc bánh được
trang trí màu trắng lại nắn như h́nh dạng hoa hồng đă từng làm khách
nước ngoài xúc động và thót lên bằng từ tiếng Anh: White rose-Hoa
hồng trắng.
Bánh quai vạc th́ dễ làm hơn thường gọi tắt là bánh vạc.
Người ta vê bột mỏng và rộng ra các phía, dùng th́a múc hỗn hợp nhưn
vào rồi nhẹ nhàng dùng các ngón tay ép bột dính kín lại nhau sau cho
nhưn nằm gọn ở bên trong.
Phần xếp bánh cũng rất quan trọng, người ta xếp bánh vạc
xung quanh bên dưới. Bánh vạc như những hoa hồng được xếp lên trên.
Cuối cùng răi lớp hành được phi vàng lên trên.
Một thứ nữa không thể thiếu đó là nước chấm. Nước chấm
này đặc biệt được chế biến từ nước luộc tôm: không mặn, cũng không
lạt quá.
MỲ QUẢNG
Mỳ Quảng xuất phát từ Quảng Nam. Người ta dùng gạo tốt
ngâm nước cho mềm rồi xay thành bột mịn (không đặc, không lỏng) pha
thêm ít phèn sa để cho sợi mỳ được gịn, cứng sau đó tráng thành lá
ḿ. Để các lá mỳ không dính vào nhau, người ta dùng dầu thoa lên bề
mặt của chúng, sắc thành sợi. Nước nhưn mỳ (tiếng địa phương gọi là
nước lèo. Nước lèo cho mỳ Quảng được nấu bằng tôm, thịt lợn, hoặc
bằng thịt gà là phổ biến, có khi làm bằng cá lóc, thịt ḅ...
Tôm được bỏ đầu, giă dập, một số con được giữ nguyên
con. Thịt heo là thịt "ba chỉ" thái mỏng cho vào tôm và cùng
ướp với gia vị: tiêu, hành, tỏi, rồi đem lên bếp để tô cho thấm. Lại
cho hành thơm và cà chua nấu đến chín. Nước nhưn mỳ không cần màu mè
mà phải trong và có vị ngọt.
Rau sống để ăn với mỳ Quảng là các loại rau mua từ làng
rau Trà Quế nằm ở Đông Bắc phố cổ Hội An. Ăn mỳ Quảng phải dùng rau
Trà Quế mới đúng "tông" v́ rau này mới thể hiện hết cái mùi
vị tổng hợp: cay, chát, ngọt, đắng... làm tôn thêm hương vị của tô
mỳ Quảng. Ở Hội An, thú vị nhất là ăn mỳ Quảng ngay trong phố nhưng
ngồi ở những chiếc ghế rất thấp thể hiện tính dân giă của người dân
địa phương. Để thêm mùi vị người ta răi đậu phụng lên và người ăn mỳ
Quảng không thể thiếu bánh tráng (miền Bắc gọi là bánh đa)
Mùi thơm của rau, vị béo của thịt của dầu, hương thơm của đậu phụng,
chất gịn béo của bánh tráng, tất cả những mùi ấy hợp lại rồi toả ra
các mùi tổng hợp, khoái khẩu lạ thường là món ăn đặt sản của Quảng
Nam.
BÁNH BÈO
Trong các món ăn chế biến từ gạo, sau mỳ Quảng, bánh bèo
là món ăn ưa chuộng của người dân Hội An, nhất là dân cư các vùng
nông thôn.
Người ta cũng chọn gạo ngon, ngâm nước, xây thành bột
mịn. Bột gạo không lỏng cũng không đặc, không nhăo. Nước bột sau khi
lấy tṛng xong sẽ cho vào chén rồi sắp lên vỉ tre đặt vào nồi để hấp.
Bánh hấp xong được đặt chồng lên nhau. Khi chín bánh trở nên trắng
tinh, mềm mướt tạo thành một khối tṛn ngộ nghĩnh. Chén đựng bánh
bèo là chén bằng đất nung tráng men, nhỏ hơn chén ăn thông thường.
Nhưn bánh bèo chủ yếu được làm từ tôm, thịt... Tôm bỏ
đầu, băm nhỏ, thịt thái nhỏ theo kiểu hạt lựu. Tất cả được ướp với
gia vị, pha thêm chút bột điều cho tăng phần màu tạo nét hấp dẫn cho
món ăn.
BÁNH ĐẬP
Người ta xây gạo thơm ngon thành bột, sau đó tráng bánh
và thoa dầu phụng để chống dính vào nhau. Lấy 2 bánh nướng kẹp vào
nhau ở giữa là bánh ướt. Khi dọn lên th́ các bánh ướt và khô chông
vào nhau. Người dùng thức ăn phải đập bánh dính vào nhau.
Trong món bánh đập này, nước mắm nêm là rất quan trọng,
có thể nói là mắm nêm làm cho món ăn trở nên mặn mà hơn. Mắm nêm
được chế biến từ cá cơm. Nước để tạo nên mắm nêm lấy từ nước hấp cá,
nên thơm ngọt, do đó mắm nêm không tanh. Người ta cũng không dùng
nước trong quá tŕnh chế biến v́ như thế sẽ tránh mùi tanh của thức
ăn.
HOÀNH THÁNH
Hoành thánh là món ăn ảnh hưởng từ Trung Hoa. Tuy vậy,
do quá tŕnh giao lưu - chuyển hoá diễn ra sâu sắc trên lĩnh vực ẩm
thực nên món hoành thánh ở Hội An có một khoảng cách khá xa so với
nguyên gốc.
Có một số tên gọi cho món ăn này. Ở Hội An, người ta gọi
là hoành thánh, trong khi đó ở miền Bắc và một số địa phương khác
th́ gọi là mằn thắn hoặc vằn thắn. Có một người Hội An giải thích về
nguồn gốc của món ăn như sau: Tương truyền vua Càn Long bị giặc cướp
rượt đuổi và đi lạc đường. Trong lúc bụng đói, vị vua đập cửa một
quán nhỏ tại một ngôi làng hẻo lánh để mua thức ăn. Rủi thay, thức
ăn đă bán sạch. Do đói quá vua Càn Long bảo có món ǵ dọn lên cũng
được. Quán chỉ c̣n bột mỳ, tôm sống và vài quả trứng gà. Chủ quán
yêu cầu nhà vua ngồi đợi rồi nhanh chóng trộn bột, bằm tôm, nặn bánh
và chế biến thành một món ăn mà từ trước đến giờ chưa từng làm.
Trong cơm đói vua Càn Long đă sơi không c̣n để lại ǵ. Vua đă đặt
tên cho món ăn này là hoành thánh. Hoành đọc theo tiếng Quảng Đông
là "vân" nghĩa là mây, thánh đọc theo tiếng Quảng Đông là "thôn"
nghĩa là nuốt. Nhân bánh làm theo dạng h́nh tṛn trông giống mặt
trăng. Nghĩa chung của các từ là "mây nuốt trăng"
Nguyên liệu làm bánh này là bột mỳ, tôm, trứng gà hoặc
trứng vịt. Trộn bột mỳ, trứng và nước theo tỉ lệ vừa phải, sau đó
nhồi cho thật nhuyễn. Dùng vật tṛn, nặng, cán bột trên một chiếc
bàn dài, phẳng. Bột cán càng mỏng bánh càng dẻo, mềm.
Nhân bánh làm bằng tôm giă đều với gia vị hành tiêu,
tỏi, nước mắm và quết nhuyễn. Đặt vỏ bánh lên bàn tay, múc nhưn tôm
đổ vào giữa, gói lại và bẳt đều các mí cho thật cứng. Nước nhưn của
hoành thánh lại nấu bằng xương heo. Xương chín th́ vớt hết khỏi nồi.
Cho thêm vào đó nấm rơm, su, thơm, nấu chín, nêm gia vị và hạ lửa.
Thường th́ người ta bỏ 7-10 chiếc bánh trong bát.
CAO LẦU
Nói đến cao lầu ở Hội An, người ta thường liên tưởng đến
cao lâu ở Hà Nội. Nhà thơ Trần Tế Xương đă từng tự thú:
"nghiện trà, nghiện thuốc nghiện cả cao lâu..." Nhưng
món ăn cao lầu ở Hội An th́ có nét riêng biệt.
Hoa kiều ở Hội An không công nhận đây là món ăn của họ,
người Minh Hương cũng vậy. C̣n một số nhà nghiên cứu Nhật Bản cho
rằng cao lầu có nét giống mỳ vùng Ice. Họ đă từng đem món ăn đó đến
Hội An để so sánh, cuối cùng họ đă nhận ra, cao lầu có những điểm
khác biệt. Trong kư ức dân gian người ta phát hiện trước kia món ăn
này được gọi là "mỳ gỗ". Khác với mỳ Quảng, cao lầu thường
dùng trong chốn đô thị.
Nguyên liệu làm cao lầu là thịt xíu, tép mỡ.
Sợi cao lầu được chế biến rất công phu. Gạo được ngâm
vào nước tro, sau đó say thành bột, đem hấp và phơi khô để làm sợi
mỳ cao lầu. Người ta nói rằng, tro nấu từ củi Cù Lao Chàm v́ tro này
chứa nhiều muối. Nước nấu cao lầu, người ta cũng lấy từ giếng Bá Lễ
rất mát và không có phèn. Nước nhưn được lấy từ nước thịt xíu. Để
bớt béo người ta trụng rau sống để thêm vào món ăn. Rau trong món ăn
này cũng được lấy từ rau ở Trà Quế.
Sợi cao lầu không mềm mà phải gịn. Thịt được dùng phải
là thịt heo cỏ. Gia vị được chế biến là nước đường, x́ dầu, nước
mắm, thịt thơm.
BẮP
Bắp mà người ta nấu thường là bắp đám.
Để nấu bắp, người ta phải chặt chui bắp, sau đó cho vào
nấu liền và phải nấu bằng nước sông. Dân gian cho rằng bắp qua sông
là không ngon. Họ giải thích rằng khi qua sông là đă dâng thần Hà Bá
rồi nên ăn vào không c̣n ngon nữa. Thế nhưng có lư luận cho rằng
ngày xưa sông rộng đi thuyền xa, do bị hóp nắng nên bắp bị mất chất.
Lư luận này nghe có vẻ thuyết phục.
Nếu bắp được nấu ngay th́ sẽ ngọt, nấu từ nước sông th́
sẽ xanh. Hơn nữa chất đất cũng rất quan trọng. Ở Hội An, Cẩm Nam có
bắp ngon nhất v́ nơi đó có đất phù sa.
XÍ MÀ
Nhiều người cho rằng, xí mà là món ăn có nguồn gốc
Trung Hoa hoặc do người Minh Hương du nhập vào.
Trước hết ta bàn về tên gọi của nó.
Theo tiếng Quảng Đông, Trung Quốc, xí mà được đọc từ âm
chí mà. Âm chí mà có nghĩa là mè đen, phù có nghĩa là hủ (hủ ở đây
không có nghĩa là hủ để đựng).
Nguyên liệu nấu xí mà là mè đen, ngoài ra c̣n có bột
khoai, thanh địa, rau má, rau mơ, đường, những thứ này là nguyên
liệu sẵn có tại địa phương. Chỉ có thanh địa là một vị thuốc Đông y
người ta phải mua từ tiệm thuốc.
Cách nấu xí mà như sau: người ta đem mè xay nát thành
bột mịn, rau má rau mơ cĩng đem giă hoặc xay nát, vắt lấy nước cốt.
Sau đó pha với nước sôi rồi cho bột khoai vào làm cho hỗn hợp sền
sệt lại. Vị thanh địa nấu cùng sẽ giúp cho xí mà đen, lạ, hấp dẫn.
BÁNH ÍT LÁ GAI
Nguyên liệu làm bánh ít lá gai. Lá gai phải đúng độ tuổi,
không non mà cũng không gia. Hái xong lá th́ tước sống lá. Gĩa lá
càng nhuyễn th́ bánh càng dẻo, thơm.
Đậu xanh để làm nhưng bánh phải được đăi sạch, bóc vỏ,
ngâm nước rồi cho đường vào quết nhuyễn, viên chúng thành những viên
nhỏ. Bọc bên ngoài bằng một lớp da lá gai vừa đủ kín. Sau đó thoa
một lớp dầu phụng để chống dính. Cuối cùng dùng lá chuối bên ngoài
gói thành những chiếc bánh h́nh tháp. Bánh ít Cù Lao Chàm lớn hơn,
hương vị đậm đà hơn do có sẵn nguồn lá gai mọc nhiều ở các khu rừng
ven đảo.
NƯỚC CHÈ XANH
Nước chè xanh là một loại nước lá thường được dùng phổ
biến ở Hội An, phổ biến nhất là người dân sống tại Cù Lao Chàm.
Trước hết, người ta nhặt một số loại lá cây rừng về phơi khô rồi
chặt nhỏ. Người ta nấu nước lá chè xanh rồi uống hằng ngày.
Vào mồng 5 tháng 5 âm lịch, người dân Hội An thường mua
lá này về nấu nước uống. Có một số gia đ́nh dùng nước lá này suốt cả
năm.
Tác dụng của lá chè xanh rất tốt. Nước chè xanh mà chúng
ta dùng lâu dài sẽ giúp chúng ta ăn ngon miệng, ngủ khoẻ, miễn giảm
một số bệnh nan y và kéo dài tuổi thọ.
Nguồn: VPHDTQ Hội An
|