|
So với các lăng tẩm khác của các vua nhà Nguyễn, lăng
Dục Ðức có kiến trúc đơn giản và khiêm tốn hơn. Khu lăng
mộ hình chữ nhật có diện tích 3.445m², bên trong không
có Bi Đình và tượng đá. Vào lăng phải đi qua cổng tam
quan khá lớn xây bằng gạch, trên có mái giả.
Sau cửa là Bái Ðình không có tượng đá
mà chỉ xây lan can bằng vôi gạch. Kế đó là một cửa tam
quan 3 tầng cũng xây mái giả và trang trí hình ảnh hoa
lá bằng cách đắp nổi sành sứ...
Chính giữa Bửu Thành có một nhà hình
ốc được xây trên nền hình vuông mỗi cạnh khoảng 8m, mái
lợp ngói hoàng lưu ly bên trong có bàn và sập đá thanh
dùng để bày hương án và lễ vật khi cúng kỵ. Hai bên tả
hữu là mộ vua Dục Ðức và Hoàng hậu Tư Minh nằm đối xứng
nhau. Tấm bình phong trước mộ vua có đắp nổi hai chữ
“hỷ” ghép lại với nhau, đối xứng với “song hỷ” là hình
ảnh chữ “thọ”.
Ðiện Long Ân: ở trung tâm khu vực tẩm,
được xây dựng theo khuôn mẫu của các ngôi điện ở Huế.
Bên trong có ba án thờ bài vị các vua: Dục Ðức (và vợ
thờ ở giữa), Thành Thái (bên trái) và Duy Tân (bên phải).
Phía sau điện Long Ân là nơi yên nghỉ
của hai ông vua Thành Thái, Duy Tân. Trong khu vực này
còn có nhiều ngôi mộ của những người trong quyến thuộc
các vị vua trên.
Lăng Dục Ðức cũng mang quy cách kiến trúc chung của các
lăng khác nhưng có một số nét nghệ thuật cá biệt riêng.
Lăng Dục Ðức làm phong phú thêm cho sắc thái và chất
lượng của quần thể kiến trúc lăng tẩm.
Tiểu sử các đời Vua:
Vua Dục Đức
Vua Dục Đức tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Chân sinh năm
1852, lên 2 tuổi được vua Tự Đức chọn làm con nuôi. Sau
khi vua Tự Ðức băng hà, theo di chiếu truyền ngôi, triều
thần đã đưa Ưng Chân lên ngai vàng vào ngày 19/7/1883 và
được gọi theo tên tư thất của mình là Dục Ðức. Nhưng Dục
Ðức chỉ 3 ngày sau đã bị phế truất vì tội dám lược bỏ
một đoạn văn trong di chiếu truyền ngôi của tiên đế và
bị tống giam vào ngục. Ngày 24/10/1883 ông vua bất hạnh
đã bị chết đói trong nhà ngục, thi hài được gói vào manh
chiếu, giao cho vài tên lính gánh đi chôn, giữa đường
gánh bị đứt dây, thi hài rơi giữa đường, mọi người đã
chọn chỗ đất "thiên táng" đó làm nơi yên nghỉ vĩnh viễn
của nhà Vua và mai táng qua loa.
Vua Thành Thái
Vua Thành Thái là con trai của Dục
Ðức tên thật là Bửu Lân được đưa lên làm vua vào năm
1889, đặt niên hiệu là Thành Thái. Ðầu năm 1890, Thành
Thái cho xây dựng lăng mộ của vua cha ngay tại nấm mồ
thiên táng đó và đặt tên là An Lăng.
Năm Thành Thái thứ 11(1899) nhà vua
cho xây dựng điện Long Ân ở phía phải lăng mộ làm nơi
thờ cúng vua cha.
Năm 1907, vua Thành Thái bị truất
ngôi vì có tư tưởng chống Pháp, và bị đày đi biệt xứ.
Năm 1953, vua Thành Thái được trở về
nước và sống ở Sài Gòn, năm 1954 ông mất, thi hài được
hoàng tộc đưa về chôn trong khuôn viên lăng Dục Ðức.
Vua Duy Tân
Vua Duy Tân là con trai vua Thành
Thái được đưa lên ngôi vào năm 1907. Năm 1916, vua Duy
Tân lại bị bắt vì tội tham gia cuộc khởi nghĩa chống
Pháp do Thái Phiên cầm đầu và Trần Cao Vân tổ chức. Duy
Tân cũng bị đày đi biệt xứ như vua cha. Năm 1987, hài
cốt vua Duy Tân được cải táng từ Trung Phi đưa về chôn
cạnh mộ vua Thành Thái.
|