|
Lăng Tự Đức (Khiêm Lăng)
Vị trí:
Lăng Tự Đức tọa lạc tại xă Thủy Biều, Tp. Huế,
tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Đặc điểm:
Lăng
được xây dựng vào năm 1864 và hoàn thành vào năm 1867
trên diện tích 475ha. Khác với các lăng được xây dựng
cân đối, lăng Tự Đức được xây dựng phóng khoáng, hài hoà
với thiên nhiên có sẵn phản ánh tâm hồn lăng măn của vị
vua thi sĩ này. |
|
Lăng Tự Đức là một bài thơ tuyệt tác, một bức tranh sơn
thủy hữu t́nh, gợi cho du khách một “hồn êm thơ mộng” (une
douce rêve). Lăng vua Tự Đức được xây dựng trong một bối
cảnh lịch sử cực kỳ khó khăn của đất nước và của chính
bản thân nhà vua.
Vua sinh năm 1829, lên ngôi năm 20
tuổi (1848). Sau đó 10 năm, v́ triều đ́nh Huế áp dụng
chính sách đối ngoại hẹp ḥi, thực dân Pháp tấn công Đà
Nẵng (1858) rồi vào đánh chiếm Gia Định (1859) và một số
tỉnh khác ở Nam Kỳ (1862)... vua Tự Đức đă là người hấp
thụ khá đầy đủ nền văn hóa và triết học Đông phương với
một mâu thuẫn nội tại của nó giữa cái tích cực lúc trẻ
và tiêu cực lúc già, giữa sự sống và cái chết. Càng thất
bại trước việc nước nhà khi càng luống tuổi, ông càng bi
quan yếm thế. Nhà vua nghĩ đến cái chết tất nhiên sẽ đến
với đời ḿnh, và để vơi bớt những dằn vặt khổ đau trong
những quăng đời c̣n lại, cho nên hạ lệnh xây dựng lăng
tẩm như một hoàng cung thứ hai để thỉnh thoảng lên đây
tiêu khiển, nghỉ ngơi, và cũng để làm "ngôi nhà lâu đài
của trẫm" (vi ngô vĩnh vũ, trích bài Khiêm Cung Kư).
Đứng
trong thời đại ngày nay nh́n lại hoàn cảnh khó khăn bấy
giờ của đất nước, qui mô kiến trúc lớn lao tốn kém của
lăng vua, và các danh xưng Khiêm cung, Khiêm Lăng được
dùng để đặt tên cho nó, chúng ta thấy đó cũng là một mâu
thuẫn nội tại khó biện minh được của chính nhà vua.
Nhưng dù sao sau khi xây lăng xong,
vua Tự Đức cũng c̣n sống thêm 16 năm nữa, cho đến năm
1883, thọ 55 tuổi.
Sau khi các quan chuyên môn về địa lư
đi coi đất và chọn được vị trí ở làng Dương Xuân Thượng,
vua Tự Đức đă “chuẩn định” đồ án kiến trúc lăng tẩm theo
sở thích của ḿnh vào tháng 10/1864. Nhưng c̣n phải coi
ngày cho tốt nữa, nên đến tháng 12 năm ấy mới khởi công
xây dựng.
Toàn bộ công tác kiến trúc lăng tẩm
này được dự liệu sẽ thi công trong 6 năm với 3.000 lính
và thợ, và họ sẽ được thay phiên về nghỉ 3 tháng một lần.
Nhưng viên Biện lư bộ Công bấy giờ là Nguyễn Văn Chất
tâu xin thực hiện trong 3 năm mà thôi. Triều đ́nh cử ông
và thống chế Lê Văn Xa ở bộ Binh đứng ra coi sóc việc
thi công.
Đă không được thay phiên nhau về nghỉ lại bị cưỡng chế,
tăng cường sức lao động đến mức tối đa trong những điều
kiện tối thiểu, 3.000 lính và thợ bất măn ấy đă nghe
theo tiếng gọi nổi dậy của Đoàn Trưng. Đêm 16
rạng ngày 17/9/1866 họ dùng chiêu bài tôn pḥ "Ngũ đại
hoàn tôn" kéo về Kinh thành để lật đổ ngài vàng của vua
Tự Đức nhằm đưa Ưng Đạo, cháu nội 5 đời của vua Gia Long
lên ngôi, nhưng khi vào đến được điện Thái Ḥa th́ bị
quân của triều đ́nh phản ứng mạnh, nên thất bại. Cuộc
nổi loạn bị dập tắt hoàn toàn. Một tai nạn của vua Tự
Đức đă qua đi, nhưng uy tín của nhà vua bị tổn thương
không ít, v́ đây không phải là một cuộc ngoại xâm, mà là
một cuộc nổi biến ngay giữa ḷng triều đ́nh Trung ương.
Trong số 13 vua Nguyễn, vua Tự Đức là
người uyên thâm nhất về nền học vấn Đông Phương, nhất là
Nho học. Vua giỏi về cả sử học, triết học, văn học nghệ
thuật và đặc biệt là rất sính thơ. Vua đă để lại 600 bài
văn và 4.000 bài thơ văn chữ Hán và khoảng 100 bài thơ
chữ Nôm. Thơ văn nhà vua phản ánh một con người nhân hậu,
một tâm hồn đa cảm, một tư chất hâm mộ nghệ thuật. Tư
chất ấy cũng biểu lộ rơ trên nghệ thuật kiến trúc của
lăng vua. Sử cho biết chính nhà vua đă "chuẩn định" (décider)
mô thức xây dựng nó. Trong ṿng La thành rộng khoảng
12ha, gần 50 công tŕnh kiến trúc lớn nhỏ dàn trải thành
cụm trên những thế đất phức tạp cao thấp hơn nhau chừng
10m. Nhưng, các hệ thống bậc cấp lát đá thanh, các lối
đi quanh co lát gạch Bát Tràng đă nối tất cả các công
tŕnh kiến trúc lại thành một thể thống nhất, tương quan,
gần gũi.
Qua khỏi Khiêm Cung Môn, cửa tam quan
hai tầng dựng trên một thế đất cao, người ta bước vào
một hệ thống cung điện gồm vài chục ṭa nhà lớn nhỏ và
các công tŕnh kiến trúc phụ thuộc.
Ṭa ngang dăy dọc nơi đây đă được
dành cho vua và đoàn cung nữ tùy tùng thỉnh thoảng lên ở
lại vui chơi. Minh Khiêm Đường - nhà hát cổ xưa và mang
giá trị nghệ thuật kiến trúc trang trí. Điện Ḥa Khiêm -
nơi thờ đế và hậu, hiện c̣n chứa nhiều đồ ngự dụng và
các tác phẩm mỹ thuật đương thời.
Nếu nhà cửa ở Khiêm Cung đều làm bằng gỗ th́ tất cả các
công tŕnh kiến trúc ở khu vực lăng mộ bên kia đều được
xây bằng gạch, đá. Đáng để ư nhất là tấm bia lớn nhất
Việt Nam cao chừng 5m, được bảo vệ bằng một ṭa nhà đồ
sộ kiên cố với cột to, vách dày và xây cửa cuốn. Các nhà
kiến trúc đă cho xây Bi đ́nh bằng vật liệu và kiểu thức
như vậy là dùng để chống chọi với thời gian. Trên ngọn
đồi nằm bên kia hồ bán nguyệt Tiểu Khiêm Tŕ là Bửu
Thành xây bằng gạch và chính giữa có ngôi nhà nhỏ xây
bằng đá thanh, nơi vua yên nghỉ. Bửu thành được bao phủ
bởi một rừng thông xanh ngắt, reo vi vu suốt bốn mùa.
Ngoài ra, hệ thống tháo thoát trong
toàn lăng tẩm đă được thiết kế, xây dựng một tŕnh độ
cao, và lưu thông rất tốt. Nh́n chung, mỗi công tŕnh
kiến trúc trong lăng Tự Đức đều mang một đường nét khác
nhau về nghệ thuật tạo h́nh: không trùng lặp và rất sinh
động. Cách phân bố các khu vực và bố cục các công tŕnh
kiến trúc trong từng khu vực ở lăng Tự Đức đă phá bỏ hệ
thông lệ giữ ǵn sự đối xứng từng cổ điển ở một số lăng
khác. Tại đây c̣n có những lối đi uốn lượn mềm mại theo
thế đất tự nhiên hoặc do bàn tay con người tạo dáng.
Đường nét kiến trúc thật phóng khoáng, hài ḥa thiên
nhiên có sẵn, hoặc cải tạo lại cho phù hợp với nghệ
thuật kiến trúc phong cảnh.
Nếu phá vỡ sự đối xứng cũng là một
nét đẹp trong nghệ thuật th́ lăng Tự Đức có thêm nét đẹp
đó. Kiến trúc và thiên nhiên ở đây gây được nhiều cảm
xúc thẩm mỹ mới lạ cho người đến tham quan, và phản ánh
được tâm hồn lăng mạn trữ t́nh của một ông vua thi sĩ.
Lăng Tự Đức là một bài thơ tuyệt tác,
một bức tranh sơn thủy hữu t́nh, gợi cho du khách một "hồn
êm thơ mộng" (une douce rêve). |
|