|
Mặc
dù đã trải qua hơn một thế kỷ rưỡi với bao cơn bão táp
của thiên nhiên và chiến tranh tàn phá, nhưng nhờ có kỹ
thuật xây dựng khéo léo và nhất là nghệ thuật kiến trúc
rất thành thạo, cho nên, Ngọ Môn vẫn còn đứng vững với
thời gian để trở thành một trong những công trình kiến
trúc cổ tiêu biểu của miền núi Ngự Sông Hương.
Ngọ Môn xây
dựng vào năm 1833, khi vua Minh Mạng cho quy hoạch lại
mặt bằng và hoàn chỉnh hóa tổng thể kiến trúc trong Ðại
Nội.
Vì Kinh
Dịch quy định, ông vua bao giờ cũng quay mặt về phía nam
để cai trị thiên hạ, cho nên, ngay từ thời Gia Long
(1802 - 1810), khi xây dựng Kinh đô Huế, các nhà kiến
trúc đã cho hệ thống thành quách và cung điện ở vào vị
trí thế “tọa càn hướng tốn” (tây bắc đông nam). Hướng
này cũng được xem như hướng bắc - nam. Ðối với ngai vàng
trong Điện Thái Hòa được xem như vị trí trung tâm của
mặt bằng tổng thể, Ngọ Môn nằm ở phía nam của nó. Căn cứ
trên la kinh (la bàn) của khoa địa lý phong thủy Ðông
Phương, phía nam thuộc hướng "ngọ" trên trục "tý ngọ" (nghĩa
là bắc - nam). Do đó,
triều Minh Mạng đã đặt tên cho cái cổng mới xây ở chính
giữa mặt trước Hoàng Thành là Ngọ Môn, thay cho tên cũ
là Nam Khuyết Ðài. Chúng ta nên hiểu Ngọ Môn là cổng
phía nam với ý nghĩa mang tính không gian, chứ không nên
cho rằng chữ "ngọ" ở đây mang tính thời gian là giờ "ngọ",
lúc mặt trời đứng bóng giữa ngày.
Thành thử không thể dịch chữ Ngọ Môn ra thành "Noon
time gate" như có người đã dịch. Có hiểu đúng ý nghĩa
của người xưa khi đặt tên, mới thấy rõ hơn vị trí của
Ngọ Môn trong tổng thể kiến trúc Ðại Nội. Ngày xưa, cổng
này thường đóng chặt quanh năm, chỉ được mở khi vua ra
vào Hoàng Thành có đoàn ngự đạo đi theo, và trong những
dịp tiếp kiến các sứ ngoại quốc quan trọng trong hoàng
cung...
Tuy nhiên,
Ngọ Môn không phải chỉ là một cái cổng, mà nó là cả một
tổng thể kiến trúc khá phức tạp: bên trên còn có Lầu Ngũ
Phụng được xem như một lễ đài, dùng
để tổ chức một số cuộc lễ hàng năm của triều đình, như
lễ Truyền Lô (đọc tên các sĩ tử thi đỗ tiến sĩ), lễ Ban
Sóc (phát lịch), lễ Duyệt Binh...và đây cũng là nơi diễn
ra cuộc lễ thoái vị của vua Bảo Ðại vào ngày 30/8/1945.
Về mặt kết
cấu kiến trúc, có thể chia tổng thể Ngọ Môn ra làm hai
hệ thống: hệ thống nền đài ở dưới và hệ thống Lầu Ngũ
Phụng ở trên, mặc dù cả hai đều đã
được thiết kế ăn khớp nhau một cách chặt chẽ và hài hòa
với nhau từ tổng thể đến chi tiết.
Hệ
thống nền đài: Cao gần 5m, nền đài Ngọ Môn xây trên một
mặt bằng hình chữ U vuông góc, đáy dài 57,77m và cánh
27,06m. Vật liệu kiến trúc chính là gạch vồ, đá thanh và
đồng thau. Ở phần giữa của nền đài trổ ra ba lối đi song
song nhau: Ngọ Môn (dành cho vua đi), Tả Giáp Môn và Hữu
Giáp Môn (dành cho quan văn võ theo hầu trong đoàn Ngự
Ðạo).
Ở trong lòng mỗi cánh chữ U có trổ một lối đi như đường
hầm chạy xuyên suốt từ trong ra ngoài, rồi thẳng góc vào
phía đường Dũng đạo. Hai lối đi này được gọi là Tả Dịch
Môn và Hữu Dịch Môn (dành cho lính tráng và voi ngựa
theo hầu trong đoàn Ngự đạo). Ở phần trên của 5 lối đi
đều xây cuốn thành vòm cao, nhưng ở riêng ở hai đầu 3
lối đi giữa thì các kiến trúc thời Minh Mạng lại kết cấu
những hệ thống xà ngang và xà dọc bằng đồng thau với
tiết diện 15x12 để gia cố cho sự chịu lực từ Lầu Ngũ
Phụng nằm trên đài. Nơi nào chịu
đựng trọng lượng càng lớn thì số lượng xà ngang càng
nhiều và khoảng cách giữa chúng càng thu hẹp lại, nghĩa
là mật độ xà càng cao. Và để giữ vẻ thẫm mỹ, họ đã bọc
thêm một lớp đồng lá dát mỏng ở ngoài mặt các hệ thống
xà đồng này. Họ đã tỏ ra rất thành thạo trong việc tính
toán tải trọng, sức bền vật liệu, cũng như trong việc sử
dụng thích hợp các phương thức và các loại vật liệu xây
dựng.
Còn ở tầng
trên thì mặt trước nhà giữa dựng cửa lá sách, chung
quanh nong ván, nhưng có trổ nhiều cửa sổ với những dạng
khác nhau: hình tròn, hình cái quạt, hình cái khánh...
Có thể chia
9 bộ mái của Lầu Ngũ Phụng ra làm 3
dãy, mỗi dãy gồm 3 nóc: dãy chính chạy ngang theo đáy
hình chữ U và hai dãy phụ chạy dọc theo hai cánh hình
chữ U. Hai dãy này được gọi là Tả Dực Lâu và Hữu Dực Lâu.
Từ mặt đất
thường, người ta đi lên trên nền đài bằng hai hệ thống
bậc cấp xây bằng đá thanh ở hai bên, nằm lộ thiên nhưng
rất kín đáo. Quanh trên nền đài là hệ thống nữ tường (tường
hoa, lan can) được trang trí bằng nhiều kiểu gạch hoa
đúc rỗng tráng men ngũ sắc.
Hệ thống
Lầu Ngũ Phụng : Lầu Ngũ Phụng có hai tầng, dưới lớn
trên nhỏ. Bộ sườn làm bằng gỗ lim. Lầu gồm chín bộ mái
ngói ống tráng men vàng và xanh lá cây, gọi là ngói
hoàng lưu ly và ngói thanh lưu ly. Ngói được lợp theo
kiểu âm dương. Lầu dựng ở một nền cao 1,14m xây trên đài.
Tòa nhà lầu có 100 cây cột chẵn, trong đó có 48 cột ăn
suốt cả hai tầng. Mái tầng dưới đơn giản, nối liền nhau
chạy quanh một vòng khắp tất cả các phía để che mưa nắng
cho các dãy hồi lang của tầng này. Nhưng ở tầng trên thì
mái lầu chia ra thành 9 bộ khác nhau, trong đó, bộ mái ở
giữa cao hơn 8 bộ mái ở hai bên. Quanh các phía tầng
dưới đều để trống chỉ trừ chính giữa có hệ thống cửa
gương ở mặt trước, dựng đố bản ở hai bên và mặt sau chỗ
thiết Ngự tọa để vua ngồi dự lễ.
 |
| |
Sở
dĩ tổng thể Ngọ Môn được xây dựng trên một mặt bằng hình
chữ U và hệ thống Lầu Ngũ Phụng được
chia ra thành 9 bộ mái lớn nhỏ, cao thấp, nằm nhấp nhô
trông vui mắt như thế là vì để tránh sự nặng nề của một
công trình kiến trúc hình khối tương đối đồ sộ. Hệ thống
nền đài đều xây bằng các loại vật liệu cứng (đá, gạch,
đồng), nhưng nhờ tạo dáng mềm mại, bố trí hài hòa và
trau chuốt khéo léo, nên trông vẫn rất nhẹ nhàng. Ðá
thanh mài nhẵn, gạch vồ nung kỹ, vừa trộn mật mía và
nhựa cây với tỷ lệ cao, cho nên độ bền rất lớn. Các lối
đi trổ xuyên qua thân nền đài thành những đường hầm khá
dài, nhưng ánh sáng thiên nhiên vẫn chiếu dọi vào đầy đủ
nhờ những dạ cửa được nâng cao và trổ thêm các cửa sổ
tròn trang trí hình chữ "thọ". Các hệ thống lan can con
tiện bằng gỗ (ở tầng trên Lầu Ngũ Phụng) và bằng gạch
hoa đúc rỗng (nữ tường quanh trên nền đài) càng làm cho
tổng thể kiến trúc trở nên thanh tú. Ở các ô hộc trên bờ
nóc, bở quyết và các đầu hồi của tòa nhà lầu được trang
trí nhiều hình ảnh rồng, giao, dơi ngậm kim tiền, thơ
văn, hoa lá, làm cho phần mái càng thêm xinh.
Căn cứ vào
số đo của mọi kích thước mặt bằng, các mặt đứng và mặt
cắt, cố họa sĩ Phạm Ðăng Trí đã chứng minh rằng tổng thể
cũng như từng bộ phận kiến trúc Ngọ Môn đều được thiết
lập theo “tỷ lệ vàng” của nền mỹ học Tây phương; mặc dù
các nhà kiến trúc vào nửa đầu thế kỷ 19 chỉ làm theo mỹ
cảm trực giác của mình.
Mặt khác,
những số đếm trên kiến trúc Ngọ Môn cũng được áp dụng
theo nguyên tắc của Dịch học Ðông phương, chẳng hạn như
số 5, số 9, số 100. Năm lối đi tượng trưng cho “ngũ
hành”. Chín nóc lầu biểu hiện con số 9 trong hào “cửu
ngũ” ở Kinh Dịch, ứng với mạng thiên tử. Một trăm cây
cột nhà ở Lầu Ngũ Phụng cho thấy đó
là số cộng của “Hà Đồ” và “Lạc Thư” trong sách ấy.
Số của "Hà
Đồ" là 55 (do các số từ 1 đến 10 cộng lại :
1+2+3+4+5+6+7+8+9+10); số của “Lạc Thư” là 45 (do các số
từ 1 đến 9 cộng lại: 1+2+3+4+5+6+7+8+9). Như vậy số
thành của Hà Đồ và Lạc Thư cộng lại (55+45) là 100. Và
nói đến Dịch học là phải nói đến âm dương, vì “Nhất âm
nhất dương chi vị Ðạo”.
Số dương
của Hà Đồ là 25 (do các số lẻ từ 1 đến 10 cộng lại:
1+3+5+7+9; số âm của Hà Đồ là 30 (do các số chẵn từ 1
đến 10 cộng lại: 2+4+6+8+10) và số dương của Lạc Thư là
25 (do các số lẻ từ 1 đến 9 cộng lại: 1+3+5+7+9); số âm
của Lạc Thư là 20 (do các số chẵn từ 1 đến 9 cộng lại:
2+4+6+8)
Hai số
dương của Hà Đồ và Lạc Thư cộng lại là 50 (tức 25+25);
hai số âm của chúng cộng lại cũng là 50 (tức là 30+20).
Thành ra âm và dương của Dịch học là bằng nhau, đều 50.
Nghĩa là : (25+25) + (20+30)= 100.
Trên thực
địa, nếu dùng đường trục chính của Ðại Nội là Dũng đạo
để chia mặt bằng Lầu Ngũ Phụng ra làm hai phần thì chúng
ta thấy mỗi bên có 50 cột đối xứng nhau.
Ðạo âm
dương ngũ hành của nền triết học Ðông Phương đã biểu
hiện thật cụ thể trên kiến trúc Ngọ Môn. Cho hay, trong
các công trình kiến trúc cổ của chúng ta, người xưa đã
gửi gắm nhiều ẩn số, ẩn ngữ, ẩn ý rất sâu xa.
Ngoài ra,
sự để trống chung quanh tầng dưới Tả Dục Lâu và Hữu Dục
Lâu làm lộ rõ các hàng cột thon nhỏ ở Lầu Ngũ Phụng gây
cho người xem một cảm giác, một ấn tượng thanh thoát,
nhẹ nhàng, dễ chịu.
Tổng thể
Ngọ Môn tuy đồ sộ nguy nga, nhìn từ xa như một tòa lâu
đài tráng lệ, nhưng khi tiếp cận, chúng ta thấy các kiến
trúc sư thời Minh Mạng đã tỏ ra rất cao tay nghề trong
việc thiết kế và trang trí, cho nên, nó trở thành một
công trình kiến trúc xinh xắn đáng yêu, gần gũi với
phong cảnh thiên nhiên và tâm hồn, tình cảm của con
người xứ Huế.
Ngọ Môn
xứng đáng được liệt vào hàng những công trình kiến trúc
nghệ thuật xuất sắc nhất của triều Nguyễn nói riêng và
của nền kiến trúc cổ Việt
Nam nói chung.
Mặt bằng
kiến trúc của hệ thống Lầu Ngũ Phụng ăn
khớp với mặt bằng của hệ thống nền đài, như đã nói trên,
tạo thành một vòng tay của chủ nhân dang ra phía trước
để đón khách vào. |