|
Nghề cói Kim Sơn
|
| Kim Sơn mùa thu hoạch cói.
Ảnh: Vũ Đức Phương. |
Kim Sơn hiện có gần 5.000 doanh nghiệp, cơ sở và hộ
cá thể tham gia trồng, chế biến cói. Mỗi năm doanh
thu từ chế biến cói đạt trên 200 tỷ đồng, giải quyết
việc làm cho 23.250 lao động trên địa bàn.
Đến nay, huyện Kim Sơn có 7 làng nghề cói được tỉnh
Ninh B́nh cấp bằng công nhận làng nghề với gần 5.000
doanh nghiệp, cơ sở và hộ cá thể tham gia trồng, chế
biến cói. Các doanh nghiệp, cơ sở tham gia sản xuất
hàng cói đă từng bước đổi mới phương thức sản xuất,
kinh doanh, đổi mới cách quản lư và bồi dưỡng nâng
cao năng lực cho cán bộ và tay nghề cho công nhân,
đáp ứng yêu cầu hội nhập. Đầu tư xây dựng cơ sở vật
chất nhà xưởng, trang thiết bị tiên tiến vào sản
xuất, kinh doanh, đảm bảo chất lượng sản phẩm theo
tiêu chuẩn quốc tế để tạo ra mẫu hàng mới đa dạng,
có thẩm mỹ cao, phù hợp với thị hiếu của khách hàng.
Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, từng bước
cải tiến mẫu mă, nâng cao chất lượng, hạ giá thành
sản phẩm, nâng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị
trường... Mỗi năm, doanh thu từ chế biến cói đạt
trên 200 tỷ đồng. Nghề trồng, chế biến cói đă góp
phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho 23.250
lao động.
Cùng với đẩy mạnh chế biến, Kim Sơn đă tập trung
triển khai khôi phục và mở rộng diện tích trồng mới
cói để đảm bảo nguyên liệu phục vụ chế biến hàng
xuất khẩu. Năm 2006, diện tích cói của Kim Sơn đạt
409 ha và đến cuối năm 2007 đạt 474 ha; trong đó
diện tích khôi phục và trồng mới là 153,8 ha. Diện
tích cói được trồng tập trung ở Công ty nông nghiệp
B́nh Minh và 13 xă trong huyện. Tuy nhiên, trong
thời gian gần đây do thị trường tiêu thụ các sản
phẩm hàng cói xuất khẩu ngày càng giảm, nhiều doanh
nghiệp chế biến cói gặp khó khăn, không kư được
nhiều hợp đồng làm hàng cói. Mặt khác, lượng cói
tồn kho vụ mùa chuyển sang đầu năm 2008 c̣n khá
nhiều, làm cho giá cói tiếp tục giảm chỉ c̣n 1.200-
1.600 đồng/kg, có thời điểm xuống chỉ c̣n 800 đồng/kg
nên một số hộ trồng cói không tiếp tục duy tŕ diện
tích cói đă có, không trồng mới, việc chăm sóc cói
cũng không được quan tâm đầu tư nên cả diện tích,
năng suất và sản lượng cói đều giảm so với năm
trước. Diện tích cói vụ chiêm 2008 đạt 342 ha, giảm
gần 129 ha so với vụ chiêm xuân 2007; Sản lượng cói
chẻ khô ước đạt 2.545 tấn, giảm 1.518 tấn so với vụ
chiêm 2007…

Phơi các
sản phẩm cói xuất khẩu. Ảnh:Kim
Duyên
Để thúc đẩy sản xuất CN- TTCN và làng nghề, nhất là
nghề trồng, chế biến cói, Kim Sơn đă đề ra những
giải pháp cụ thể. Trước hết tiến hành rà soát, điều
chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển kinh tế- xă hội
của huyện cho phù hợp với t́nh h́nh thực tế. Đồng
thời xây dựng quy hoạch phát triển CN- TTCN, làng
nghề, ngành nghề nông thôn theo đúng định hướng Nghị
quyết Huyện uỷ đề ra.
Kim Sơn đề ra một số chính sách và giải pháp cụ thể
như tạo điều kiện về nguồn vốn, mặt bằng sản xuất,
cơ sở hạ tầng cho các dự án đầu tư phát triển sản
xuất TTCN, nhất là phát triển sản phẩm cói. Ngoài
chính sách hỗ trợ về giống và khôi phục ruộng cói
của tỉnh, từ năm 2008 huyện trích ngân sách hỗ trợ
trực tiếp cho người trồng, mở rộng diện tích cói
nguyên liệu trong vùng quy hoạch với mức hỗ trợ 1
lần trồng mới là 1 triệu đồng/ha; hỗ trợ 1 lần khôi
phục, cải tạo là 500.000 đồng/ha. Các đơn vị được
tỉnh cấp bằng công nhận làng nghề được hỗ trợ 1 lần
là 15 triệu đồng/đơn vị. Vận động các doanh nghiệp,
cơ sở trong Hiệp hội nghề cói góp vốn cùng với quỹ
b́nh ổn giá cói nguyên liệu để hỗ trợ người trồng
cói khi giá cói xuống thấp, nhằm đảm bảo diện tích
trồng cói.
Hàng năm, huyện dành một phần kinh phí để phục vụ
cho việc ứng dụng, chuyển giao công nghệ tiên tiến
trong lĩnh vực sản xuất CN- TTCN, trong đó đặc biệt
chú trọng đến việc nâng cao chất lượng, giá trị mỹ
thuật và độ tinh xảo của sản phẩm truyền thồng. Đối
với các địa phương, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất
chế biến cói, tăng cường công tác xúc tiến thương
mại, nắm bắt nhu cầu thị trường, tích cực t́m đầu
ra cho sản phẩm, đồng thời đẩy mạnh áp dụng các tiến
bộ kỹ thuật vào sản xuất, gắn sản xuất với công nghệ
chế biến nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát
triển vững chắc, góp phần đưa tốc độ tăng trưởng sản
xuất CN- TTCN b́nh quân hàng năm đạt 17% trở lên. Tỷ
trọng giá trị sản phẩm CN- TTCN trong cơ cấu kinh tế
chung đến năm 2010 đạt 39%. Đến năm 2010 có 15- 20
làng nghề được tỉnh cấp bằng công nhận làng nghề,
thu hút trên 80% số lao động nông nhàn vào sản xuất
TTCN.
Thanh Chiên
(Theo Báo Ninh B́nh điện tử) |