Chùa tọa lạc phía Nam hồ Tây, đường Thanh
Niên, quận Ba Đ́nh, thành phố Hà Nội. Sách
Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội,
1993) giới thiệu chùa nguyên là chùa Khai
Quốc, dựng từ thời Tiền Lư Nam Đế (541-547)
tại thôn Yên Hoa, gần bờ sông Hồng. Đến đời
Lê Trung Hưng (1615), chùa được dời vào
trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ cung Thúy
Hoa (thời Lư) và điện Hàn Nguyên (thời Trần).
Trong các năm 1624, 1628 và 1639, chùa được
tiếp tục trùng tu, mở rộng. Trạng nguyên
Nguyễn Xuân Chính đă soạn bài văn bia dựng ở
chùa vào năm 1637 về công việc tôn tạo này.
Đầu đời Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc
chuông, đắp tượng. Năm 1821, Vua Minh Mạng
đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa.
Năm 1824, Vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1
đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi
tên chùa là Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn
Quốc từ đời Vua Lê Hy Tông đă được nhân dân
quen gọi cho đến ngày nay.,Chùa đă được Bộ
Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn
hóa quốc gia.
Chùa Trấn Quốc
Hà Nội
Chùa Trấn Quốc là một trong những ngôi chùa
cổ nhất Việt Nam, nằm cạnh Hồ Tây, ở cuối
đường Thanh Niên, quận Ba Đ́nh, Hà Nội. Chùa
được xây từ thời Lư Nam Đế (541-547) ở gần
sông Hồng, đến năm 1615, được dời vào vị trí
ngày nay. Chùa có vườn tháp cổ u tịch, có
nhiều tượng Phật giá trị, đặc biệt là tượng
Thích Ca nhập Niết Bàn. Chùa là Di tích lịch
sử - văn hóa quốc gia.
Theo Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà
Nội, 1993), th́ chùa Trấn Quốc nguyên là
chùa Khai Quốc, dựng từ thời Tiền Lư (Lư Nam
Đế, 541-547), tại thôn Y Hoa, gần bờ sông
Hồng. Đến đời Lê Trung Hưng (1615), chùa
được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền
cũ cung Thúy Hoa (thời Lư) và điện Hàn
Nguyên (thời Trần). Trong các năm 1624, 1628
và 1639,chùa tiếp tục được trùng tu, mở rộng.
Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đă soạn bài
văn bia dựng ở chùa vào năm 1639 về công
việc tôn tạo này. Đầu đời Nguyễn, chùa lại
được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Năm
1821, Vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20
lạng bạc để tu sửa. Năm 1842, Vua Thiệu Trị
đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và
200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc.
Nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời Vua Lê Hy
Tông đă đễợc nhân dân quen gọi cho đến ngày
nay.
Vườn Tháp Tổ.
Ta hoài niệm cùng vườn tháp nhấp nhô cao
thấp, nhỏ to lời vang vọng giữa hư vô, nghe
rơ tiếng ngọn chua me, cỏ ấu đang phập phồng
hơi thở dưới chân tháp đầy hơi ẩm sương hồ,
nghe lao xao trong gió tiếng mơ cầu kinh
đang luận bàn Sắc Sắc Không Không. Ra phía
trước sân chùa, thả tầm nh́n vào mênh mông
sóng biếc, ta đứng dưới gốc bồ đề nguyên
sinh ra từ Tây Trúc, được Tổng thống ấn Độ
mang đến đây cho cây bén rễ, mang theo mầu
Thiền. Mỗi chiếc lá đề có h́nh tim, cuống
nhỏ nên mỏng mảnh, chỉ phơ phất gió đă rung
rinh rào rạt.
Cũng giống như hầu hết những ngôi chùa khác
trên đất nước Việt, chùa Trấn Quốc có nhiều
lớp, có nhà bái đường, nhiều tượng Phật từ
thấp đến cao, từ to đến nhỏ, vàng son lấp
lánh, hương khói quanh năm... Đặc biệt có
pho tượng Thích Ca nhập Niết Bàn bằng gỗ
thếp vàng lộng lẫy.
Chùa c̣n có 14 tấm bia, trong đó có bia của
Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính, tiến sĩ Phạm
Quư Thích dựng năm 1639 và 1015...
Chùa Trấn Quốc nằm trên bán đảo phía đông
của Hồ Tây, nên thuộc đất làng Yên Phụ, nơi
có ngôi đ́nh thờ thánh. Vào mùa xuân hằng
năm dân làng tổ chức đám rước từ đ́nh sang
chùa rồi từ chùa về làng bằng cả một đoàn
thuyền nối nhau cờ reo trống thúc tưng bừng.
Người vào chùa Trấn Quốc, ngoài việc thành
tâm lễ Phật c̣n là để có một chút ngao du
ngắn, được thăm một danh lam nổi lên thanh
b́nh giữa phố phường ồn ào, tất bật. Tịch
mịch ngay giữa ḷng thành phố, cái đáng quư
c̣n đáng được b́nh phương lên nữa.
Chiều Trấn Quốc. Trời b́nh lặng. Hồ như một
lăo tăng chân tu, ngồi thiền trong hoàng hôn,
lắng nghe câu kệ giữa bốn bề mây nước, dù
phế hưng vẫn rộn ră những nẻo nào...
Hà Nội vẫn may mắn c̣n rất nhiều chùa chiền
đền miếu. Nào Kim Liên, Một Cột, Liên Phái,
Quán Sứ, Thái Cam... Nào đền Quán Thánh,
Bích Câu đạo quán, nào đền Bạch Mă, đền Lư
Quốc Sư...
Riêng Trấn Quốc vẫn thuộc loại chùa cổ nhất,
như đă đắc đạo trên đường tu luyện mà mặt
nước Hồ Tây đầy huyền thoại làm chứng quả.
Chùa không nhiều bậc đá rêu phong, hay núi
non trùng điệp, nhưng thật yên b́nh cùng
sóng nước ngân nga, vẫn có thể cho hồn ta
giọt nước cành dương, rửa đi một phần thế
tục, để làm Lành làm Thiện với nhân gian...
Băng Sơn