Hanoinet - “Khu phố cổ Hà Nội” được xếp hạng là
di tích lịch sử cấp quốc gia. Đây là một không
gian đô thị, gần giống h́nh thang cân, có diện
tích khoảng 100ha (1.000.000 m2), nằm ở phía
Đông Kinh đô Thăng Long xưa.
Vùng đất và người - rất đặc trưng của Hà Nội qua
các thời này, có quá tŕnh h́nh thành từ rất lâu
đời: ngay từ khi vua Lư Thái Tổ định đô Thăng
Long (năm 1010), thậm chí từ thời “tiền Thăng
Long” (trước thế kỷ 10).
Đó chính là nơi mà trong văn bản “Chiếu dời đô”
(mùa xuân năm 1010), Lư Thái Tổ đă nói: “Muôn
vật hết sức giàu thịnh, tốt tươi”! Bởi lẽ, hàng
ngh́n năm nay, đây là trung tâm kinh tế đô thị
của cả vùng Kinh đô - thủ đô Thăng Long - Hà Nội:
buôn bán, sản xuất hàng thủ công, làm dịch vụ...Do
đó, cũng !à nơi sinh sống chủ yếu của các tầng
lớp “thị dân – b́nh dân" của toà đô thị đứng đầu
đất nước này. Trong quy hoạch “Tam trùng thành
quách” (ba ṿng tường thành lồng nhau) của Kinh
đô Thăng Long ngày xưa - mà đại để là ở trong
cùng th́ dành cho Hoàng đế và Hoàng gia, ở giữa
là các cơ quan triều đ́nh, và ngoài cùng là chỗ
ở của chúng dân, cũng như trong quy hoạch “ba
vùng kinh tế xă hội” của đô thị cổ này với đại
thể: Khu vực hành chính, chính trị và văn hoá ở
giữa, mạn Tây là vùng nông nghiệp, mạn Đông là
vùng kinh tế công thương.
Với đặc trưng lịch sử và kinh tế, xă hội này,
khu phố cổ Hà Nội đang xuất tŕnh trước cái nh́n
thích thú của du khách di sản kiến trúc nhà ở cổ
truyền của ḿnh. Không phải là những ngôi nhà
cao có nhiều tầng như thường thấy ở các đô thị
khác, cũng không phải là những ngôi nhà sàn đặt
trên những hàng cột, mặc dù đây là kiểu kiến
trúc nhà ở phổ biến trong thời thượng cổ và ngày
nay vẫn phổ biến ở miền núi Việt Nam, mà là
những "ngôi nhà h́nh ống”,thấp, mặt tiền hẹp,
chiều dọc lớn. Đó là di sản kiến trúc của một
thời mà theo quy định của các vua quan th́ “nhà
dân không được xây cao hơn chiều cao của kiệu
vua đi”; cũngdo hoàn cảnh “phố phường chật hẹp,
người đông đúc”, phải dành mặt tiền cho thật
nhiều cửa hàng (bầy, bán hàng hoá) san sát c̣n
phía trong, ngôi nhà phát triển theo chiều sâu
để lần lượt từng ngăn làm nơi sản xuất, ăn ở,
sinh hoạt của mỗi gia đ́nh.
Những ngôi nhà ống như thế làm thành những dăy
phố (“phố” nghĩa gốc là nhà bày bán hàng) cạp
theo những con đường đất, thỉnh thoảng cũng được
lát đá hoặc gạch, chỉ đến thời cận đại mới rải
nhựa.
Cókhoảng 100 đường phố, ngơ ngách như thế chằng
chịt nối mạng giao thông trong khu phố cổ Hà Nội.
Do đặc trưng của quy hoạch, mỗi dăy phố chuyên
làm hoặc chuyên bán một thứ sản phẩm nên có cách
gọi và đặt tên rất đặc trưng, thường bắt đầu tên
gọi bằng chữ “Hàng”: Hàng Điếu, Hàng Đồng..., đă
lưu hành một thuật ngữ thú vị “Hà Nội 36 phố
phường” - mệnh danh cho khu phố cổ Hà Nội. Con
số 36 mang tính chất tượng trưng, chỉ “số nhiều”.
Hiện nay - năm 2007, có khoảng trên 50 phố với
tên gọi bắt đầu bằng chữ “Hàng” trên địa bàn khu
phố cổ Hà Nội.
Do đặc trưng của quy hoạch, mỗi dăy phố chuyên
làm hoặc chuyên bán một thứ sản phẩm nên có cách
gọi và đặt tên rất đặc trưng, chẳng hạn: phố
“Hàng Mă”, xưa là nơi làm và bán các đồ giả, chủ
yếu bằng giấy (thỏi vàng, quần áo) để đốt cúng
cho người đă chết, th́ nay, vẫn sặc sỡ phất phơ
những hàng hoá chủ yếu làm bằng giấy như thế,
nhưng khéo tay, công phu và “hiện đại” hơn, có
khi c̣n thấy cả những chiếc xe... Honda, hoặc cả
những... xấp tiền đô-la!
Những khu chợ với đủ các mặt hàng “thượng vàng
hạ cám”, với lối mua bán đôi khi vẫn theo
“truyền thống” nói thách và mặc cả, mà quy mô và
danh tiếng lớn nhất là “Chợ Đồng Xuân”, th́ xưa
cũng như nay, vẫn luôn là những điểm nhấn thú vị
và quan trọng của những hoạt động kinh tế, cả
văn hoá nữa, trong khu phố cổ.
Đến với khu phố cổ Hà Nội, để sống cùng hoặc
riêng với nền văn hoá đô thị cổ truyền ở đây, du
khách dù khó tính đến đâu thường cũng vẫn bị hấp
dẫn bởi những giá trị văn hoá phi vật thể, chứa
đựng và sống động trong khoảng 100 đơn vị và
công tŕnh kiến trúc vật thể, là di tích của
những ngôi chùa cổ (thờ Phật), những ngôi đ́nh
cũ (thờ thần Thành Hoàng), và những đền, miếu,
quán... xưa (thờ các nhân thần và hiển thần), cả
những nhà thờ họ (thờ tổ tiên các gia đ́nh, ḍng
tộc)... với những tŕnh diễn thiêng liêng, ngoạn
mục của các lễ hội phong phú, nhiều khi kỳ lạ,
thường niên, hằng tháng hoặc thậm chí từng ngày
trên các phố phường của khu phố cổ Hà Nội. Điển
h́nh trong các di tích lịch sử và văn hoá này,
cả Thăng Long - Hà Nội xưa, có 4 công tŕnh kiến
trúc tín ngưỡng quan trọng ở đúng 4 hướng trên
giới hạn (đường biên) ngoài cùng của đô thị, thờ
4 vị thần linh thiêng có nhiệm vụ trấn giữ cho
miền đất đứng đầu cả nước này, là Thăng Long tứ
trấn. Đứng hàng đầu trong Thăng Long tứ trấn, có
niên đại cổ nhất (được khởi dựng từ thế kỷ IX)
chính là ngôi đền Bạch Mă (Ngựa trắng, tượng
trưng cho Mặt trời) ở phố Hàng Buồm (phố làm và
bán những chiếc buồm xưa dành cho thuyền bè đến
và đi từ những bến sông ở gần ngay đấy) thuộc
khu phố cổ Hà Nội.
Ngoài việc khám phá các giá trị văn hoá tinh
thần rất phong phú, du khách đến đây c̣n có
nhiều dịp để hưởng thụ những nét đặc sắc, vô
cùng hấp dẫn của nền “văn hoá ẩm thực” ở khu phố
cổ Hà Nội: phở (thịt ḅ, thịt gà. . .), bún (riêu,
cua, ốc), nem (chua, rán), bánh (cốm, cuốn)...
Nhiều người nói, những món ăn uống này mặc dù
nhiều nơi cũng có, nhưng ở trong khu phố cổ Hà
Nội thường bao giờ cũng ngon hơn. Tuy nhiên,
ngon lành, đặc sắc và tiêu biểu nhất ở trong khu
phố cổ Hà Nội chính là món chả cá, mà một cửa
hàng duy nhất có "thương hiệu" mang h́nh tượng
một ông già câu cá (gọi là “Lă Vọng”) ở trên
chính ngay một đường phố cổ, xưa có tên là phố
“Hàng Sơn” (làm và bán mặt hàng sơn) nay mang
tên của chính món ăn này: phố “Chả Cá”!
Chỉ bằng vài nét điểm qua, đă có thể thấy khu
phố cổ Hà Nội đúng là nơi chứa đựng rất nhiều
giá trị tiêu biểu của Kinh đô Thăng Long – thủ
đô Hà Nội qua hàng ngh́n năm cho đến nay. Nhưng
qua ngh́n năm biến động của lịch sử, nhiều giá
trị trong số đó đă và đang biến dạng, hoặc thậm
chí biến mất. Và cuộc sống của một đô thị hiện
đại, đổi mới và hội nhập cũng khiến cho không
thể giữ và sống nguyên vẹn với tất cả các giá
trị cổ truyền đó.
Vấn đề rất lớn ở đây là: bảo tồn những ǵ, theo
những phương thức nào và để phát triển? Tức
chính là vấn đề quan hệ giữa bảo tồn và phát
triển. Như đang thấy, với mật độ dân số vào hàng
cao nhất đất nước (khoảng 100.000 dân, sống trên
khoảng 100 ha đất đai), những công dân chủ nhân
khu phố cổ hiện nay đang sinh sống trung b́nh 20
người trong một ngôi nhà mà 60 năm trước chỉ
trung b́nh có 5, 6 người ở. Hệ quả là những ngôi
nhà truyền thống trong khu phố cổ, vốn mang một
đặc trưng chung là “thấp tầng”, nay buộc phải
trở thành “cao tầng” (một cách lộn xộn).
Việc kinh doanh những mặt hàng hiện đại, theo
phương thức hiện đại, không thể thích hợp (nếu
không phải là mâu thuẫn sâu sắc) với h́nh thể và
tiện nghi cổ truyền của những ngôi nhà truyền
thống trong khu phố cổ, ít nhất cũng là ở chỗ
“mặt tiền”, do đó, cần phải và đă được “cải tạo”
(thay đổi diện mạo và cấu trúc) cũng ít nhất là
chỗ “mặt tiền” ấy (một cách chắp vá).
Trong khi đó, khoảng 1.000 ngôi nhà thuộc khu
phố cổ đă được thống kê và xác định là: c̣n bảo
lưu được tính cổ kính truyền thống (mặc dù,
tuyệt đại đa số đều “xuống cấp” (hư hỏng) và chỉ
bảo lưu được từng và một số bộ phận, mà cổ nhất,
th́ cũng chỉ có niên đại là thế kỷ XIX). Công
cuộc bảo tồn (khôi phục và ǵn giữ tính cổ kính)
cho khoảng 1.000 ngôi nhà như thế, trong ṿng
gần 10 năm qua, mới chỉ thực hiện được ở mức độ
(con số) rất khiêm tốn là: 3 đơn vị nhà cổ (ở
phố Mă Mây, phố Hàng Đào, và nhà số 51 Hàng Bạc
- làm năm 2004).
Thành phố Hà Nội đă có chủ trương đưa khu phố cổ
Hà Nội vào lộ tŕnh (roadmap) trở thành di sản
thế giới, đó chính là một nguồn cổ vũ, thậm chí
là động lực quan trọng, mới mẻ, để giải quyết
tốt việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị
của di sản lịch sử này.
Chúng ta, thế hệ trẻ cả nước nói chung, thế hệ
trẻ Hà Nội nói riêng cần phải giữ ǵn, bảo tồn
và phát huy những giá trị tinh hoa của dân tộc
để xứng đáng với truyền thống ông cha đă để lại
cho muôn đời sau.