|
Khoảng 60% dân cư là dân tộc Lào theo nghĩa hẹp, nhóm cư dân
thống lĩnh trong chính trị, văn hóa sinh sống ở các khu vực đất thấp.
Dân tộc Lào bắt nguồn từ người Thái di cư từ Trung Quốc xuống phía nam
khoảng thiên niên kỷ 1 trước công nguyên. 8% dân cư thuộc các sắc tộc
khác ở vùng đất thấp cùng với người Lào được gọi chung là Lào Lùm.
Các dân tộc sinh sống ở vùng cao là người H'Mông (Mèo), Dao (Yao hay
Miền), Thái đen, Shan và một ít người gốc Tây Tạng-Miến Điện, sống tại
các khu vực cô lập của Lào. Các bộ lạc vùng cao với một di sản ngôn ngữ
sắc tộc hỗn hợp ở phía bắc của Lào. Một cách tổng quát họ được biết đến
như là người Lào Sủng hay người Lào vùng cao.
Các vùng núi ở trung tâm và miền nam là nơi sinh sống của các bộ lạc
thuộc sắc tộc Môn-Khmer, được biết đến như là người Lao Thơng. Có một ít
người là gốc Việt Nam, chủ yếu ở các thành thị, nhưng nhiều người đă rời
khỏi đây sau khi Lào giành độc lập cuối những năm thập niên 1940 và sau
1975.
Thuật ngữ Lào không nhất thiết phải chỉ đến ngôn ngữ, dân tộc
Lào hay tập quán của người Lào mà nó bao hàm ư nghĩa chính trị nhiều hơn.
Nó có thể bao hàm cả các sắc tộc không phải là người Lào gốc nhưng đang
sinh sống ở Lào và là công dân Lào. Tương tự như vậy từ "Lào" có thể chỉ
đến những người hay ngôn ngữ, văn hóa và ẩm thực của những người thuộc
sắc tộc Lào đang sinh sống ở vùng Đông Bắc Thái Lan (Isan).
Tôn giáo chính là Phật giáo nguyên thuỷ, cùng với những điểm chung
của thờ cúng linh vật trong các bộ lạc miền núi là sự cùng tồn tại một
cách ḥa b́nh của thờ cúng tinh thần. Có một số ít người theo đạo Kitô
và đạo Hồi.
Ngôn ngữ chính thức và chi phối là tiếng Lào, một kiểu phát âm của
Nhóm ngôn ngữ Thái. Người Lào vùng trung và cao nguyên nói tiếng của bộ
lạc ḿnh.
|