Cung điện Potala được xem là một biểu tượng của
chính thể Tây Tạng vào thời điểm khi quốc gia vừa
thống nhất dưới sự cai trị của các đức Đạt Lai Lạt
Ma phật giáo, đã thực hiện chức năng ấy ở mức thán
phục và tạo ra hình ảnh biểu tượng thị giác tinh túy
của Tây Tạng đối với người ngoài và hình ảnh này
được thể hiện qua nhiều nhóm khác nhau trong yêu
sách đòi quyền kiểm soát đối với Tây Tạng.
Đồng thời, cung điện còn giúp chúng ta liên tưởng
nguồn gốc Ấn Độ của Phật giáo Tây Tạng, trong thực
tế được sự hậu thuẫn của Mông Cổ để làm cho việc thi
công trở thành khả thi, và trang hoàng kiến trúc
kiểu Trung Hoa.

Ảnh chụp của Hugh Richardson, người đại diện cho
chính phủ Anh ở Tây Tạng, chụp vào thập niên 1940.
Đặt theo tên của một cung điện huyền bí ở Nam Ấn Độ
của Đức Phật bảo trợ Tây Tạng Avalokiteshvara, cung
điện Potala được xây dựng trên địa điểm được cho là
một cung điện nhỏ của nhà sáng lập Tây Tạng vào thế
kỷ thứ VII, Đức vua Songtsen Gampo, chính là người
nghĩ ra dự án xây dựng Potala và đức Đạt Lai Lạt Ma
thứ 5 (khoảng 1642-1682) được nhắc đến như một sự
hóa thân của Avalokiteshvara. Vì thế tính liên tục
và sự phục hưng của nhà nước Tây Tạng sau các thời
kỳ chia cắt đã được tái khẳng định có chủ ý.
Cung điện Potala chạy dọc theo đỉnh một dãy núi thấp
nhìn xuống thành phố Lhasa ở hướng Nam, cũng là một
bộ phận của khu đất có hướng bao hình chữ nhật nằm ở
chân núi. Phần trung tâm của khu đất có 2 thành phần
chính: Bạch cung ở phía Đông và Hồng cung ở phía Tây.
Sau khi được Gushri Khan - vua Mông Cổ làm lễ nhậm
chức cho đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 trong tư cách nhà
cai trị Tây Tạng năm 1642, đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 5
xây dựng Bạch cung từ năm 1645 đến 1648 và chọn nơi
đây làm nơi ở chính thức của mình. Nhiếp chính sau
cùng của ông, Sangye Gyasho, xây dựng Hồng cung từ
năm 1690 đến 1694 để hợp nhất lăng mộ của đức Đạt
Lai Lạt Ma.

Bất chấp sự phát triển của Lhasa trong những thập
niên gần
đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng của các công
trình
theo phong cách hiện đại, cung điện Potala vẫn còn
nổi bật
trong cảnh quan thành phố.
Cả Bạch lẫn Hồng cung sau cùng là sự phát triển
thiết kế tu viện Ấn Độ cổ đại. Phòng họp ở tầng 1
hình chữ nhật được bao quanh bằng những phòng nhìn
vào bên trong, bên trên chồng thêm từ 2 tầng hay
nhiều hơn với các phòng nhỏ khác, chứa một dải đất
bằng tạo bậc phía trong, lộ thiên, làm hành lang
phía trên phòng lớn. Các khoảng không gian bên trong
hầu hết là nhà nguyện, phòng tu viện, căn hộ sinh
hoạt của các đức Đạt Lai Lạt Ma hay am hài cốt của
họ.
Mộ của đức Đạt Lai Lạt Ma tứ 13 (khoảng 1895 - 1933)
tạo ra sự phát triển theo kiểu Tây phương cho đến
Hồng cung xây dựng từ năm 1934 và 1936. Các công
trình ngoại vi chẳng hạn như những khu nhà sinh hoạt
trong tu viện ở đầu phía Tây, nhà khoa và công sự
bên ngoài có vẻ trở ngược lại thế kỷ 17, mặc dù
nhiều sự bổ sung không đáng kể đã tiến hành qua
nhiều năm. Lối vào qua cổng hẹp, có thể phòng thủ
sau khi bước qua nhiều được hốc có bậc thang mà độ
nghiêng thoai thoải của chúng rất thuận tiện cho
ngựa thồ hàng hóa.
Bất chấp một số lần bị bao vây trong thời gian ngắn,
và nguy cơ thường xuyên xảy ra động đất và hỏa hoạn,
thiệt hại do Cách mạng văn hóa, cung điện Potala
chưa hề bị tàn phá nghiêm trọng và nói chung thường
được duy tu hợp lý.
Thi công

Sơ đồ cung điện Potala
Đỉnh đồi có vẻ san bằng thành dải đất bằng tạo bậc
bằng cách cắt và lấp đầy, một kỹ thuật Tây Tạng
chuẩn, tường ngoài của công trình đi xuống bên dưới
dải đất bằng ở nhiều cao trình khác nhau tạo cảm
giác dãy núi đang lớn dần lên. Trong công nghệ và
cách sử dụng vật liệu, cung điện Potala nói chung
không khác mấy với ngôi nhà ở vùng nông thôn Tây
Tạng - không phải ngạc nhiên số lượng nhân công
khổng lồ chỉ có thể chiêu mộ từ số nông dân địa
phương.
Kỹ thuật kết cấu là một trong những vách tường khối
xây chịu tải đồ sộ bên ngoài - trong trường hợp đá
đẽo thô trát vữa bùn - để đặt các dầm trần nhà bằng
gỗ chắc chắn, đến lượt dầm gỗ này làm gối cho các
dầm gỗ đỡ sàn tạ lên tường. Bên trong dầm được gối
bằng cột gỗ qua các gối tựa dài. Vì thế khối xây ở
bên ngoài nhường chỗ cho phần lớn gỗ súc ở bên trong.
Một khác biệt không quan trọng với cấu trúc nhà ở
nông thôn là trong các tháp nhỏ phòng thủ ở các đầu
phía Đông và phía Tây, với các tường cong chứ không
phải tường thẳng. Phần lớn đá được vận chuyển từ các
địa điểm ở thượng lưu Đông Bắc Lhasa, bằng phu khuân
vác và thuyền thúng, trong khi bùn phần lớn đào ngay
ở phía dưới địa điểm, để lại nhiều hố sau này cải
tạo thành hồ trang trí.

Mặt tiền Bạch cung điển hình cho kiến trúc tôn
giáo
Tây Tạng, tường dốc hướng về bên trong, sự tương
phản màu sắc sống động và tập trung trang trí
hướng về phần đỉnh.
Lớp vỏ tường bên trong và ngoài đều xây bằng các lớp
đá nằm ngang, thông thường sâu khoảng 25cm, và dài
30-50cm, ngăn cách bằng các lớp mỏng gồm nhiều đá
nhỏ, hơi phẳng hơn lèn chặt bằng bùn hình thành lớp
lót bằng phẳng để xây các lớp đá lên trên.
Ở các phần tường phía dưới và công sự phụ phòng thủ,
lớp đá chính tường có hình dạng rất gồ ghề và các
lớp chèn chiếm một tỷ lệ lớn hơn so với tổng số các
lớp. Ở những nơi các lớp đá chính bị bao quanh hoàn
toàn bằng các lớp đá chèn, kỹ thuật này gọi là kiểu
"lót tã".
Điển hình trong kiến trúc Tây Tạng là dốc hướng về
bên trong hay độ nghiêng 6-9 độ của tường ngoài tính
từ chiều thẳng đứng, thường lớn hơn một chút trong
phần cắt ngang phía dưới xây thô hơn. Điều này nhất
thiết phải tạo độ nghiêng các lớp chèn thật cẩn thận
hướng về các góc. Giữa lớp vỏ bên trong và ngoài,
tường dày đến 5m được chèn đầy đất, đá học và các
nhánh liễu bện chéo với nhau. Đối với việc sử dụng
đồng nấu chảy trong chân móng có thể chỉ là quy ước
trong văn học.

Mái phủ kim loại theo kiểu Trung Hoa đỡ các hình
chạm
đầu mái có xuất xứ Ấn Độ. Mái hiên cấu trúc che mát
cửa ra vào và cửa sổ và phần tường chắn có
trang trí.
Dốc nghiêng của tường hướng vào bên trong nhìn bề
ngoài được đối trọng bằng các cột của cửa sổ khung
gỗ, giống như chẽ ra ở tầng thấp nhất và đôi lúc nới
rộng ra đến các ban công ở các tầng phía trên. Lanh
tô của chúng bị bịt lại bằng các mút dầm đỡ sàn nhô
ra và mái che bằng bùn.
Mái phẳng liên kết với tường chắn, theo chiều thẳng
đứng hơn là trát vữa, trong lớp mặt bên ngoài là một
tập hợp gồm rất nhiều cây liễu hay bụi cây thánh
liễu, các đầu mút hướng ra ngoài đều sơn đỏ. Đây là
một phiên bản hóa thạch gồm rất nhiều chất đốt hay
cỏ khô vẫn còn chất đống vòng quanh mái nhà nông
thôn Tây Tạng.
Tường trang trí bằng lớp sơn vôi hay màu đất son màu
đỏ, thường xuyên được làm mới bằng cách đổ nước từ
phía trên xuống. Kết cấu gồ ghề của bề mặt ngoài ở
các khu nhà ở kề nhau làm tăng cảm giác quê mùa,
chất phác của công trình.
Kết cấu gỗ bên trong và bề mặt tường đều nặng nề với
trang trí chạm khắc và sơn. Điểm quan trọng nhất
trong khu phức hợp được đánh dấu ở cao trình cao
nhất bằng những mái nhà nhỏ mạ vàng theo kiểu Trung
Hoa của thợ thủ công Trung Hoa và các trang trí mạng
vàng có xuất xứ Ấn Độ của thợ thủ công Nepal, một
điểm khác biệt với kiểu nhà nông thôn.
Số liệu thực tế:
Thời điểm xây dựng: 1645 - 1695 (với nhiều bổ sung
sau này)
Địa điểm: Lhasa, Tây Tạng
Số tầng: 13
Chiều cao: 117m
Vật liệu: đá, gỗ, bùn
Cao trình: 3.700m
Theo Kiến trúc thế giới hiện đại