|
Trung Quốc là một trong những cái nôi văn minh nhân loại sớm
nhất . Văn minh Trung Quốc cũng là một trong số ít các nền văn minh,
cùng với Lưỡng Hà cổ (người Sumer), Ấn Độ (Văn minh lưu vực sông Ấn Độ),
Maya, và Ai Cập Cổ đại (mặc dù có thể nó học từ người Sumer), tự tạo ra
chữ viết riêng.
Triều đại đầu tiên theo các tư liệu lịch sử Trung Quốc
là nhà Hạ; tuy nhiên chưa có bằng chứng khảo cổ học kiểm chứng được sự
tồn tại của triều đại này (khi Trung Quốc tăng trưởng kinh tế và cải
cách chính trị đồng thời có đủ nhân lực và trí lực để theo đuổi mạnh mẽ
hơn nhằm minh chứng về một lịch sử cổ đại, có một số di chỉ Đá Mới được
đưa ra cũng như một vài bằng chứng được gom lại theo thời gian, thể hiện
rơ bản sắc, sự thuần nhất và niềm tự hào dân tộc, hay nói cách khác là
thể hiện chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa đại Hán tộc). Triều đại đầu tiên
chắc chắn tồn tại là nhà Thương, định cư dọc theo lưu vực sông Hoàng Hà,
vào khoảng thế kỷ 18 đến thế kỷ 12 TCN. Nhà Thương bị nhà Chu chiếm (thế
kỷ 12 đến thế kỷ 5 TCN), đến lượt nhà Chu lại bị yếu dần do mất quyền
cai quản các lănh thổ nhỏ hơn cho các lănh chúa; cuối cùng, vào thời
Xuân Thu, nhiều quốc gia độc lập đă trỗi dậy và liên tiếp giao chiến, và
chỉ coi nước Chu là trung tâm quyền lực trên danh nghĩa. Cuối cùng Tần
Thủy Hoàng đă thâu tóm tất cả các quốc gia và tự xưng là hoàng đế vào
năm 221 TCN, lập ra nhà Tần, quốc gia Trung Quốc thống nhất về thể chế
chính trị, chữ viết và có một ngôn ngữ chính thống đầu tiên trong lịch
sử Trung Quốc.
Tuy nhiên, triều đại này không tồn tại lâu do nó quá độc đoán và tàn
bạo và đă tiến hành "đốt sách chôn nho" trên cả nước (đốt hết sách vở và
giết những người theo nho giáo) nhằm ngăn chặn những ư đồ tranh giành
quyền lực của hoàng đế từ trứng nước, để giữ độc quyền tư tưởng , và để
thống nhất chữ viết cho dễ quản lư. Sau khi nhà Tần sụp đổ vào năm 207
TCN th́ đến thời nhà Hán kéo dài đến năm 220 CN. Sau đó lại đến thời kỳ
phân tranh khi các lănh tụ địa phương nổi lên, tự xưng Thiên tử
và tuyên bố Thiên mệnh đă thay đổi. Vào năm 580, Trung Quốc tái thống
nhất dưới thời nhà Tùy. Vào thời nhà Đường và nhà Tống, Trung Quốc đă đi
vào thời hoàng kim của nó. Trong một thời gian dài, đặc biệt giữa thế kỷ
thứ 7 và 14, Trung Quốc là một trong những nền văn minh tiên tiến nhất
trên thế giới về kỹ thuật, văn chương, và nghệ thuật. Nhà Tống cuối cùng
bị rơi vào quân xâm lược Mông Cổ năm 1279. Vua Mông Cổ là Hốt Tất Liệt
lập ra nhà Nguyên. Về sau một thủ lĩnh nông dân là Chu Nguyên Chương
đánh đuổi chính quyền người Mông Cổ năm 1368 và lập ra nhà Minh, kéo dài
tới năm 1644. Sau đó người Măn Châu từ phía đông bắc kéo xuống lật đổ
nhà Minh, lập ra nhà Thanh, kéo dài đến vị vua cuối cùng là Phổ Nghi
thoái vị vào năm 1911.
Đặc điểm của phong kiến Trung Quốc là các triều đại thường lật đổ
nhau trong bể máu và giai cấp giành được quyền lănh đạo thường phải áp
dụng các biện pháp đặc biệt để duy tŕ quyền lực của họ và kiềm chế
triều đại bị lật đổ. Chẳng hạn như nhà Thanh (người Măn Châu) sau khi
chiếm được Trung Quốc thường áp dụng các chính sách hạn chế việc người
Măn Châu bị ḥa lẫn vào biển người Hán v́ dân họ ít. Tuy thế, những biện
pháp đó đă tỏ ra không hiệu quả và người Măn Châu cuối cùng vẫn bị văn
hóa Trung Quốc đồng hóa.
Vào thế kỷ thứ 18, Trung Quốc đă đạt được những tiến bộ đáng kể về
công nghệ so với các dân tộc ở Trung Á mà họ gây chiến hàng thế kỷ, tuy
nhiên lại tụt hậu hẳn so với châu Âu. Điều này đă h́nh thành cục diện
của thế kỷ 19 trong đó Trung Quốc đứng ở thế pḥng thủ trước chủ nghĩa
đế quốc châu Âu trong khi đó lại thể hiện sự bành trướng đế quốc trước
Trung Á. (Xem Chủ nghĩa đế quốc tại châu Á).
Tuy nhiên nguyên nhân chính của sự sụp đổ của đế quốc Trung Hoa không
phải do tác động của châu Âu và Mỹ, như các nhà sử học theo chủ thuyết
vị chủng phương Tây vẫn hằng tin tưởng, mà có thể là kết quả của một
loạt các biến động nghiêm trọng bên trong, trong số đó phải kể đến cuộc
nổi dậy mang tên Thái B́nh Thiên Quốc kéo dài từ 1851 đến 1862. Mặc dù
cuối cùng cũng bị lực lượng triều đ́nh dập tắt, cuộc nội chiến này là
một trong số những cuộc chiến đẫm máu nhất trong lịch sử loài người - ít
nhất hai mươi triệu người bị chết (hơn tổng số người chết trong Thế
Chiến thứ nhất). Trước khi xảy ra nội chiến này cũng có một số cuộc khởi
nghĩa của những người theo đạo Hồi, đặc biệt là ở vùng Trung Á. Sau đó,
một cuộc khởi nghĩa lớn cũng nổ ra mặc dù tương đối nhỏ so với nội chiến
Thái B́nh Thiên Quốc đẫm máu. Cuộc khởi nghĩa này được gọi là khởi nghĩa
Nghĩa Ḥa Đoàn với mục đích đuổi người phương Tây ra khỏi Trung Quốc.
Tuy đồng t́nh thậm chí có ủng hộ quân khởi nghĩa, Thái hậu Từ Hi lại
giúp các lực lượng nước ngoài dập tắt cuộc khởi nghĩa này.
Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước
Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa ngày 1 tháng 10, 1949.
Năm 1912, sau một thời gian dài suy sụp, chế độ phong kiến Trung Quốc
cuối cùng sụp đổ hẳn và Tôn Trung Sơn thuộc Quốc Dân Đảng thành lập
Trung Hoa Dân Quốc (THDQ). Ba thập kỷ sau đó là giai đoạn không thống
nhất - thời kỳ Quân phiệt cát cứ, Chiến tranh Trung-Nhật, và Nội chiến
Trung Quốc. Nội chiến Trung Quốc chấm dứt vào năm 1949 và Đảng Cộng sản
Trung Quốc nắm được đại lục Trung Quốc. ĐCSTQ lập ra nước Cộng ḥa
Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH)- tự xem là nhà nước kế tục của Trung Hoa Dân
Quốc. Trong khi đó, chính quyền THDQ do Tưởng Giới Thạch lănh đạo th́
rút ra đảo Đài Loan, nơi mà họ tiếp tục được khối phương Tây và Liên
Hiệp Quốc công nhận là chính quyền hợp pháp của toàn Trung Quốc măi tới
những năm 1970, sau đó hầu hết các nước và Liên Hiệp Quốc chuyển sang
công nhận CHNDTH.
Vương quốc Anh và Bồ Đào Nha, đă lần lượt trao trả hai nhượng địa là
Hồng Kông và Ma Cao ở bờ biển phía nam về cho Cộng ḥa nhân dân Trung
Hoa vào 1997 và 1999. Trung Quốc trong văn cảnh ngày nay thường
chỉ lănh thổ của CHNDTH, hay "Đại lục Trung Quốc", mà không tính Hồng
Kông và Ma Cao.
|