Tiếng Trung Quốc là một ngôn ngữ có ngữ điệu thuộc hệ
ngôn ngữ Hán-Tạng. Mặc dù thường được coi là ngôn ngữ duy nhất với lư do
văn hoá, trên thực tế mức độ đa dạng giữa các vùng khác nhau có thể sánh
với sự đa dạng của các ngôn ngữ Rôman. Tuy vậy, tất cả mọi người nói các
thứ tiếng Trung Quốc khác nhau đều dùng chung một dạng văn viết thống
nhất có từ đầu thế kỷ 20 là bạch thoại (nghĩa là thứ tiếng b́nh dân dựa
trên tiếng Quan Thoại) dùng gần như cùng một bộ chữ Trung Quốc.
Khoảng một phần năm dân số thế giới hiện nay dùng một trong những thứ
tiếng Trung Quốc làm tiếng mẹ đẻ, khiến nó trở thành thứ tiếng đứng đầu
thế giới về phương diện này. Tiếng Trung Quốc nói ở thể Quan Thoại chuẩn
là ngôn ngữ chính thức của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa dân
quốc tại Đài Loan, cũng như là một trong bốn ngôn ngữ chính thức của
Singapore, và là một trong sáu ngôn ngữ làm việc chính thức của Liên
Hiệp Quốc. Tiếng Trung Quốc nói ở thể Quảng Đông chuẩn th́ là một trong
những ngôn ngữ chính thức của Hồng Kông (cùng với tiếng Anh) và của Ma
Cao (cùng với tiếng Bồ Đào Nha).
Thuật ngữ và khái niệm và người Trung Quốc sử dụng để phân biệt văn
nói và văn viết không giống với phương Tây do những sự khác biệt về phát
triển chính trị và xă hội ở Trung Quốc so với châu Âu. Mặc dù châu Âu
phân chia thành nhiều nhà nước-quốc gia dựa trên khác biệt về ngôn ngữ
sau khi Đế quốc La Mă sụp đổ, Trung Quốc vẫn giữ được thống nhất về văn
hoá và chính trị vào cùng thời kỳ đó và duy tŕ được thứ ngôn ngữ viết
chung trong suốt thời kỳ lịch sử của nó dù trên thực tế sự đa dạng trong
ngôn ngữ nói của Trung Quốc có thể sánh như châu Âu. Do đó, người Trung
Quốc phân biệt rơ giữa "văn viết" và "văn nói" . Như vậy, quan
niệm về sự thống nhất và khác biệt giữa văn viết và các dạng văn nói ở
phương Tây rơ rệt hơn là ở Trung Quốc.