|
|
Giai đoạn Bắc
thuộc
|
Các chính quyền
tự chủ (43-905) |
|
Trong suốt thời
kỳ này, nhân dân
Việt Nam luôn
nổi dậy để giành
lại nền độc lập,
mở đầu là cuộc
khởi nghĩa Hai
Bà Trưng (40-43).
Tiếp đó là cuộc
khởi nghĩa Bà
Triệu (năm 248).
Giữa thế kỷ 6,
Lư Bí đă lănh
đạo dân Giao
Châu nổi lên
đánh đuổi Tiêu
Tư, chiếm giữ
thành Long Biên,
lập nên nhà nước
độc lập đầu tiên,
nước Vạn Xuân,
nhưng chỉ tồn
tại trong một
thời gian ngắn.
Dưới ách thống
trị của các đế
chế Trung Hoa đă
bùng lên nhiều
cuộc khởi nghĩa:
Mai Thúc Loan
(722), Phùng
Hưng
(766-791),... và
cuối cùng, với
chiến thắng quân
Nam Hán trên
sông Bạch Đằng
năm 938, Ngô
Quyền đă chấm
dứt thời kỳ
thống trị Trung
Quốc hơn một
ngh́n năm, khôi
phục nền độc lập
cho đất nước.
|
♦
Chính quyền
Trưng Nữ Vương (năm
40-43):
Huư là Trưng
Trắc, con gái
của Lạc tướng Mê
Linh (đất Mê
Linh nay thuộc
vùng giáp giới
giữa Hà Tây với
Vĩnh Phúc và
ngoại thành Hà
Nội). Thân sinh
mất sớm, Trưng
Trắc và em gái
là Trưng Nhị
được thân mẫu là
bà Ma Thiện (cũng
có truyền thuyết
nói là bà Trần
Thị Đoan) nuôi
dưỡng. Hiện chưa
rơ Trưng Trắc
sinh năm nào,
chỉ biết khi Tô
Định được nhà
Đông Hán sai
sang làm Thái
Thú ở Giao Chỉ (năm
34), th́ Trưng
Trắc đă trưởng
thành và kết hôn
với con trai của
Lạc tướng Chu
Diên là Thi Sách
(đất Chu Diên
nay là vùng giáp
giới giữa Hà Tây
với Hà Nam). Bấy
giờ, nhân ḷng
căm phẫn của
nhân dân ta đối
với chính sách
thống trị tàn
bạo của nhà Đông
Hán, lại cũng
nhân v́ Thi Sách
bị Thái Thú Tô
Định giết hại,
Trưng Trắc cùng
em là Trưng Nhị
và nhiều bậc hào
kết khác, phát
động và lănh đạo
cuộc khởi nghĩa
có quy mô rất
lớn. Khởi nghĩa
bùng nổ vào cuối
năm 39 đầu năm
40 và nhanh
chóng được nhân
dân cả nước nhất
tề hưởng ứng. Tô
Định phải hốt
hoảng bỏ chạy về
nước.
Chính quyền
Trưng Nữ Vương
tồn tại được
trong khoảng gần
ba năm (từ đầu
năm 40 đến cuối
năm 42, đầu năm
43). Sử gia Lê
Văn Hưu (1230 -
1322) viết: "Trưng
Trắc, Trưng Nhị
là đàn bà mà hô
một tiếng cũng
có thể khiến
được các quận:
Giao Chỉ, Cửu
Chân, Nhật Nam
và Hợp Phố cùng
65 thành ở Lĩnh
Ngoại hưởng ứng,
việc dựng nước
xưng vương dễ
như trở bàn tay.
Xem thế cũng đủ
biết h́nh thế
đất Việt có thể
dựng được nghiệp
bá vương." Nhà
Đông Hán đă phải
cử tên lăo tướng
khét tiếng tàn
bạo và dày dạn
kinh nghiệm trận
mạc là Mă Viện
sang đàn áp mới
tiêu diệt được
lực lượng và
chính quyền Hai
Bà Trưng.
♦
Chính quyền của
Bà Triệu:
Bà Triệu (Triệu
Thị Trinh) người
đất Quân Yên
(nay thuộc huyện
Yên Định, tỉnh
Thanh Hoá), sinh
năm nào chưa rơ,
chỉ biết khi
cùng anh là
Triệu Quốc Đạt
khởi xướng và
lănh đạo cuộc
chiến đấu chống
ách đô hộ của
quân Đông Ngô (năm
248), Bà đă là
một cô gái ở độ
tuổi khoảng trên
dưới hai mươi.
Bấy giờ, nhiều
người khuyên Bà
nên lập gia đ́nh,
xây dựng hạnh
phúc riêng,
nhưng Bà đă
khảng khái trả
lời : " Tôi muốn
cưỡi cơn gió
mạnh đạp ngọn
sóng dữ, chém cá
tràng ḱnh ở
biển Đông, đánh
đuổi quân Ngô,
cởi ách nô lệ
cho nhân dân chớ
không chịu khom
lưng làm t́
thiếp người ta".
Sau câu nói bừng
bừng khẩu khí
anh hùng đó, Bà
đă quả cảm phát
động khởi nghĩa.
Quân Ngô sau
nhiều phen thất
bại, đă t́m đủ
mọi thủ đoạn xảo
quyệt, thậm chí
đă dùng cả tước
hiệu Lệ Hải Bà
Vương để chiêu
dụ Bà, nhưng ư
chí của Bà trước
sau vẫn không hề
bị lung lạc.
Cuối cùng, nhà
Ngô đă phải sai
viên tướng lừng
danh là Lục Dận
đem đại binh
sang đàn áp. Bà
Triệu cùng hàng
loạt nghĩa binh
đă anh dũng hi
sinh vào năm
248.
Về thực chất, bộ
chỉ huy khởi
nghĩa do Bà
Triệu cầm đầu
cũng là một
guồng máy chính
quyền. Bà Triệu
chưa xưng đế hay
xưng vương, cũng
chưa đặt quốc
hiệu hay niên
hiệu, những rơ
ràng, guồng máy
chính quyền sơ
khai do Bà Triệu
lập ra, hoàn
toàn biệt lập và
đối nghịch sâu
sắc với chính
quyền đô hộ của
quân Ngô.
♦
Chính quyền nhà
Tiền Lư
(542-602):
Năm Nhâm Tuất
(542), Lư Bí (c̣n
có tên gọi khác
là Lư Bôn) đă
lănh đạo nhân
dân vùng dậy lật
nhào ách đô hộ
của nhà Lương (một
triều đại của
Nam Triều ở
Trung Quốc thời
Nam Bắc Triều).
Chỉ trong một
thời gian rất
ngắn. Lư Bí đă
giành được thắng
lợi và thiết lập
một hệ thống
chính quyền độc
lập, tự chủ
riêng. Nhiều bộ
sử cũ vẫn gọi
khoảng thời gian
từ năm 542 đến
năm 602 là thời
Tiền Lư, dẫu
thực tế không
hoàn toàn như
vậy. Xét rằng,
các chính quyền
khác xuất hiện
trong khoảng
thời gian nào,
tuy không đúng
là của nhà Tiền
Lư nhưng lại
được xây dựng
trên cơ sở thắng
lợi của nhà Tiền
Lư, cho nên,
chúng tôi cũng
gộp chung mà gọi
là thời Tiền Lư.
Thời Tiền Lư
có mấy hệ thống
chính quyền sau
đây:
Lư Nam Đế
(542-548):
Họ và tên: Lư Bí
(c̣n có tên khác
là Lư Bôn).
Nguyên quán:
Thái B́nh (đất
này nay thuộc
vùng tiếp giáp
giữa huyện Thạch
Thất và thị xă
Sơn Tây, tỉnh Hà
Tây).
Hiện chưa rơ năm
sinh. Năm 542,
Lư Bí phát động
khởi nghĩa và
chỉ trong ṿng
ba tháng đă quét
sạch quân Lương
ra khỏi bờ cơi.
Năm Giáp Tư
(544), Lư Bí lên
ngôi hoàng đế,
xưng là Lư Nam
Đế, đặt quốc
hiệu là Vạn Xuân,
niên hiệu là Đại
Đức (cũng có thư
tịch cổ chép là
Thiên Đức). Liên
tục trong hai
năm (545 và
546), nhà Lương
cho quân sang
đàn áp. Sau trận
thất bại ở hồ
Điển Triệt (Vĩnh
Phúc), Lư Nam Đế
giao quyền bính
lại cho Triệu
Quang Phục rồi
tạm lánh vào
động Khuất Lăo (Vĩnh
Phúc) và mất ở
đấy vào năm 548.
Do chưa rơ năm
sinh nên chưa rơ
Lư Nam Đế bao
nhiêu tuổi.
Triệu Việt Vương
(546-571):
Họ và tên: Triệu
Quang Phục
Nguyên quán: Phủ
Vĩnh Tường (nay
là vùng giáp
giới giữa Hà Tây
với Vĩnh Phúc).
Khi Lư Bí phát
động khởi nghĩa,
Triệu Quang Phục
và cha là Triệu
Túc cùng hưởng
ứng. Khi Lư Bí
xưng là Lư Nam
Đế, Triệu Quang
Phục được phong
tới chức Tả
Tướng. Năm 546,
sau thất bại
trong trận đánh
ở hồ Điển Triệt,
Triệu Quang Phục
được Lư Nam Đế
uỷ thác quyền
trông coi nghĩa
binh. Triệu
Quang Phục đă
đưa lực lượng về
đầm Dạ Trạch (đầm
này nay thuộc
Châu Giang, Hưng
Yên) và tổ chức
chiến đấu tại
đây. Năm 548,
sau khi nghe tin
Lư Bí đă qua đời,
Triệu Quang Phục
xưng là Triệu
Việt Vương. Năm
557, Triệu Việt
Vương đă đánh
tan lực lượng đi
càn quét của nhà
Lương, giành lại
quyền tự chủ cho
đất nước, đồng
thời, thành lập
một guộng máy
chính quyền độc
lập do ông đứng
đầu. Năm 571, do
bị Lư Phật Tử
tấn công bất ngờ,
Triệu Việt Vương
thua trận và bị
giết. Do chưa rơ
năm sinh nên
chưa rơ Triệu
Việt Vương thọ
bao nhiêu tuổi.
Lư Phật Tử
(556-602):
Năm 546,
khi thua trận ở
Điển Triệt, lực
lượng của Lư Nam
Đế bị chia làm
hai. Bộ phận thứ
nhất do Triệu
Quang Phục (người
về sau xưng là
Triệu Việt Vương)
cầm đầu. Triệu
Quang Phục là vị
tướng được Lư
Nam Đế tin cậy
mà uỷ thác mọi
quyền bính. Bộ
phận thứ hai do
tướng Lư Phục
Man cầm đầu. Lư
Phục Man họ tên
ǵ chưa rơ, ông
v́ có công chinh
phục người Man,
được Lư Nam Đế
yêu quư mà đặc
tên là Phục Man,
lại cho được lấy
họ Lư, sử nhân
đó gọi là Lư
Phục Man. Ông
người làng Yên
Sở. Làng này nay
thuộc huyện Đan
Phượng, tỉnh Hà
Tây.
Cũng năm 546,
nếu Triệu Quang
Phục bám trụ ở
đầm Dạ Trạch và
chiến đấu ngoan
cường với quân
nhà Lương, th́
Lư Phục Man đă
đem lực lượng
chạy vào vùng
phía tây Thanh
Hoá ngày nay.
Năm 555, Lư Phục
Man mất, một vị
tướng người cùng
họ với Lư Nam Đế
là Lư Phật Tử
lên thay. Năm
557, khi Triệu
Việt Vương đánh
tan quân nhà
Lương th́ Lư
Phật Tử cũng lập
tức đem quân
đánh Triệu Việt
Vương để giành
quyền binh.
Sau nhiều trận
không phân thắng
bại, hai bên tạm
lấy vùng đất
tương ứng với
huyện Từ Liêm (Hà
Nội) ngày nay
làm ranh giới.
Từ đất này trở
về Nam th́ do Lư
Phật Tử cai quản,
trở ra Bắc th́
do Triệu Việt
Vương cai quản.
Lư Phật Tử cho
con trai là Nhă
Lang kết hôn với
con gái của
Triệu Việt Vương
là Cảo Nương,
mượn danh nghĩa
thông gia để làm
cho Triệu Việt
Vương mất cảnh
giác. Năm 571,
Lư Phật Tử bất
ngờ cho quân
đánh úp, khiến
Triệu Việt Vương
bị đại bại và bị
giết. Lư Phật Tử
thâu tóm được
mọi quyền hành.
Sử cũ gọi đó là
Hậu Lư Nam Đế.
Năm 581, nhà Tuỳ
được dựng lên.
Sau một thời
gian lo củng cố
quyền thống trị
ở Trung Quốc,
năm 602, nhà Tuỳ
liền dùng áp lực
quân sự, khiến
Lư Phật Tử phải
đầu hàng. Không
thấy sử cũ ghi
chép ǵ về số
phận của Lư Phật
Tử sau khi đầu
hàng. Chưa rơ
năm sinh và năm
mất nên chưa rơ
Lư Phật Tử thọ
bao nhiêu tuổi.
♦
Chính
quyền Đinh Kiến
(687):
Từ năm 618 đến
năm 905, đất
nước ta bị nhà
Đường đô hộ. Năm
679, nhà Đường
lập ra An Nam Đô
Hộ phủ, sử Trung
Quốc bắt đầu gọi
ta là An Nam kể
từ đó.
Năm 687, quan
cai quản An Nam
Đô Hộ Phủ của
nhà Đường là Lưu
Diên Hựu thu
thuế rất tham
tàn, khiến cho
nhân dân ta rất
căm phẫn. Nhân
cơ hội đó, một
vị hào trưởng là
Lư Tự Tiên (nay
vẫn chưa rơ quê
quán) đă bí mật
tổ chức một cuộc
khởi nghĩa lớn.
Nhưng cơ mưu bị
bại lộ, Lư Tự
Tiên bị Lưu Diên
Hựu giết chết.
Tiếp nối sự
nghiệp của Lư Tự
Tiên, một vị hào
trưởng cũng là
một thuộc tướng
của Lư Tự Tiên
đă lănh đạo nhân
dân vùng dậy. Vị
hào trưởng ấy là
Đinh Kiến.
Ngay trong năm
687, Đinh Kiến
đă giết chết
được Lưu Diên
Hựu và chiếm
được phủ đô hộ
là thành Tống
B́nh (tức Hà Nội
ngày nay), đồng
thời, nhanh
chóng thiết lập
một hệ thống
chính quyền do
ông đứng đầu.
Đinh Kiến chưa
xưng đế hay xưng
vương, cũng chưa
đặt quốc hiệu
hay niên hiệu,
nhưng chính
quyền do ông
đứng đầu thực sự
là chính quyền
độc lập và tự
chủ. Hiện vẫn
chưa rơ quê quán
cũng như năm
sinh và năm mất
của Đinh Kiến.
♦
Chính quyền Mai
Hắc Đế (722):
Họ và tên:
Mai Thúc Loan (c̣n
có tên khác là
Mai Huyền Thành).
Sinh quán: huyện
Thiên Lộ (nay
đất sinh quán
của ông thuộc
Can Lộc, tỉnh Hà
Tĩnh).
Sau gia đ́nh ông
di cư về vùng
Ngọc Trường (vùng
này, nay thuộc
huyện Nam Đàn,
tỉnh Nghệ An).
Mai Thúc Loan
sinh trưởng
trong một gia
đ́nh nghèo, bản
thân ông luôn bị
quan lại nhà
Đường bắt phải
đi phu, phục
dịch rất vất vả.
Năm 722, ông
phát động và
lănh đạo một
cuộc khởi nghĩa
lớn. Cũng ngay
năm này, Mai
Thúc Loan đă cho
xây dựng đại bản
doanh tại Hùng
Sơn (tục danh là
Núi Đụn) và lập
căn cứ dọc theo
bờ sông Lam (Nghệ
An). Đồng thời,
để quy tụ ḷng
người, ông đă
lên ngôi hoàng
đế, xưng là Mai
Hắc Đế (ông vua
người họ Mai, da
đen). Mai Hắc Đế
đă lănh đạo
nghĩa quân, đánh
cho quan đô hộ
của nhà Đường
lúc ấy là Quang
Sở Khách phải
hốt hoảng tháo
chạy về nước.
Nhà Đường đă
phải huy động
một lực lượng
lớn mới đàn áp
được Mai Hắc Đế
và nghĩa sĩ của
ông. Mai Hắc Đế
mất năm 722, do
chưa rơ năm sinh
nên chưa rơ thọ
bao nhiêu tuổi.
♦ Chính
quyền họ Phùng
(? - 791):
Bố Cái Đại Vương
(?-789):
Họ và tên: Phùng Hưng
tự là Công Phấn.
Nguyên quán:
Đường Lâm, Phong
Châu (đất này
nay thuộc huyện
Ba V́ - Hà Tây).
Phùng Hưng sinh
trưởng trong một
gia đ́nh đời đời
làm quan lang
của vùng Phong
Châu. Bấy giờ,
nhà Đường đô hộ
nước ta. Quan đô
hộ là Cao Chính
B́nh khét tiếng
tham lam và tàn
bạo, khiến cho
nhân dân ta căm
phẫn, đồng thời,
binh lính của
Cao Chính B́nh
cũng chống đối
quyết liệt. Nhân
cơ hội đó, Phùng
Hưng phát động
khởi nghĩa. Hiện
chưa rơ khởi
nghĩa bùng nổ
vào năm nào. Các
nhà nghiên cứu
cho rằng, Phùng
Hưng phát động
khởi nghĩa trong
khoảng từ năm
766 đến năm 779.
Chỉ trong ṿng
một thời gian
ngắn, Phùng Hưng
đă chiếm được
thành Tống B́nh.
Sau đó, thúc đẩy
các lực lượng
c̣n lại của nhà
Đường ở trên đất
nước ta, đồng
thời thiết lập
một bộ máy chính
quyền do ông
đứng đầu. Khoảng
7 năm sau khi
cầm đầu guồng
máy chính quyền
này Phùng Hưng
qua đời (năm
789). Sau khi
mất, ông được
truy tôn là Bố
Cái Đại Vương.
Do chưa rơ năm
sinh nên chưa rơ
ông thọ bao
nhiêu tuổi.
Phùng An
(789-791):
Con của Bố Cái
Đại Vương Phùng
Hưng, không rơ
sinh năm nào.
Nối nghiệp cha,
cầm đầu guồng
máy chính quyền
độc lập và tự
chủ kể từ năm
789. Năm 791,
nhà Đường cử
viên tướng nổi
tiếng xảo quyệt
là Triệu Xương
sang đàn áp.
Phùng An đầu
hàng. Sau, không
rơ số phận của
Phùng An ra sao.
♦
Chính quyền
Dương Thanh
(819-820):
Dương Thanh là
một vị hào
trưởng của đất
Hoan Châu (đất
này nay thuộc
Nghệ An) và cũng
là người được
nhà Đường cho
làm Thứ Sử của
châu này. Biết
Dương Thanh là
người giàu ḷng
yêu nước, quan
đô hộ của nhà
Đường là Lư
Tượng Cổ đă dụng
mưu kế để làm
giảm uy tín của
ông, đồng thời,
tách ông ra khỏi
dân châu Hoan.
Năm 819, Dương
Thanh đă phát
động cuộc khởi
nghĩa lớn, giết
chết được Lư
Tượng Cổ, đồng
thời thiết lập
được hệ thống
chính quyền tự
chủ do ông đứng
đầu Sau nhiều
phen đàn áp
nhưng bị thất
bại, nhà Đường
đă dùng kế li
gián để chia rẽ
lực lượng của
Dương Thanh. Ông
bị cô lập dần,
để rồi cuối cùng,
bị tru di tam
tộc vào năm 820.
Hiện chưa rơ năm
sinh nên chưa rơ
ông thọ bao
nhiêu tuổi. Cũng
như nhiều vị thủ
lĩnh kiệt xuất
khác, Dương
Thanh không xưng
đế hay xưng
vương, chưa đặt
quốc hiệu và
niên hiệu, nhưng
chính quyền do
ông thiết lập ra
thực sự là chính
quyền độc lập và
tự chủ.
Trên đây là
những hệ thống
chính quyền tiêu
biểu nhất, được
thành lập trong
hoặc sau thắng
lợi của các cuộc
khởi nghĩa chống
Bắc thuộc, gồm
nhiều quy mô và
tính chất khác
nhau. Hẳn nhiên,
đó cũng chưa
phải là tất cả,
nhưng, dẫu nh́n
từ bất cứ góc độ
nào th́ đó cũng
thực sự là tinh
hoa của lịch sử
chống xâm lăng
thời Bắc thuộc.
|
|
|
Nguồn: TCDL
|