|
|
Giai đoạn Bắc thuộc (111 TCN
- 938) |
|
Năm 207 trước công nguyên,
nước Âu Lạc bị Triệu Ðà, vua
của nước Nam Việt chiếm, và
đến năm 111 trước công
nguyên, nước Nam Việt bị đế
quốc Hán tiêu diệt. Âu Lạc
bị chuyển sang tay nhà Hán
và bị chia thành các quận,
huyện. Từ đây, Việt Nam bước
vào thời kỳ chịu sự thống
trị của các đế chế Trung Hoa,
kéo dài trong mười một thế
kỷ. |
Chính trị nhà Tây Hán:
Chiếm nước ta rồi
cải tên nước là Giao Chỉ và
chia ra làm 9 quận, mỗi quận
có quan thái thú coi việc
cai trị trong quận và có
quan thứ sử để giám sát các
quận. Ở trong quận Giao Chỉ
thì có những Lạc tướng hay
Lạc hầu vẫn được thế tập giữ
quyền cai trị các bộ lạc.
1. Nam Hải (Quảng
Ðông).
2. Thương Ngô (Quảng
Tây).
3. Uất Lâm (Quảng
Tây).
4. Hợp Phố (
Quảng Ðông).
5. Giao Chỉ.
|
6. Giao Chỉ.
7. Nhật Nam.
8. Châu Nhai (đảo
Hải Nam).
9. Ðạm Nhĩ (đảo
Hải Nam).
|
♦
Bắc thuộc lần thứ hai (từ
năm 43 - 544):
Chính trị Nhà
Ðông Hán (năm 25-220):
Mã Viện đánh được
Trưng Vương, rồi chỉnh đốn
binh lương, đem quân đi đánh
dẹp các nơi, đi đến đâu xây
thành đắp luỹ đến đấy và cải
cách chính trị trong các
châu quận. Ðem phủ trị về
đóng ở Mê Linh. Từ đó chính
trị nhà Ðông Hán càng ngày
càng ngặt thêm, quan lại
sang cai trị tham lam độc
ác, bắt dân lên rừng xuống
bể để tìm những châu báu.
Ðời Tam quốc
(năm 220-265):
Nhà
Ðông Ngô (222-280):
Nhà Ðông Hán mất ngôi thì
nước Tàu phân ra là ba nước:
Bắc Ngụy, Tây Thục, Ðông Ngô.
Ðất Giao Châu bấy giờ thuộc
về Ðông Ngô.
Nhà
Tấn (năm 265-420):
Nhà Tấn làm vua được 50 năm
thì mất cả đất ở phía tây
bắc. Dòng dõi nhà vua lại
dựng nghiệp ở phía đông nam,
đóng đô ở thành Kiến Nghiệp
(thành Nam Kinh) gọi là nhà
Ðông Tấn. Ðất Giao Châu ta
vẫn thuộc nhà Tấn. Những
quan lại sang cai trị thỉnh
thoảng mới gặp đuợc người
nhân từ tử tế, thì dân mới
được yên ổn. Còn thì những
người tham lam độc ác làm
cho nhân dân phải lầm than
khổ sở.
Nam
Bắc triều (năm 420-588):
Năm Canh thân (420) Lưu Dụ
cướp ngôi nhà Ðông Tấn, lập
ra nhà Tống ở phía nam. Lúc
bấy giờ ở phía bắc thì nhà
Ngụy gồm cả nước Lương, nước
Yên, nước Hạ. Nước Tàu phân
ra làm Nam triều và Bắc
triều. Bắc triều thì có nhà
Ngụy, nhà Tề, nhà Chu nối
nhau làm vua; Nam triều thì
có nhà Tống, nhà Tề, nhà
Lương và nhà Trần kế nghiệp
trị vì. Lúc bấy giờ Giao
Châu phụ thuộc về Nam triều.
♦
Bắc thuộc lần thứ ba (603
-939):
Nhà
Tuỳ (năm 589-617):
Làm vua bên Tàu được
28 năm thì mất.
Nhà
Ðường (năm 618-907):
Năm Mậu Dần (618) nhà
Tuỳ mất nước; nhà Ðường kế
nghiệp làm vua nước Tàu. Ðến
năm tân tị (621) vua Cao Tổ
nhà Ðường sai Khâu Hòa làm
đại tổng quản sang cai trị
Giao Châu. Nhà Ðường cai trị
nước ta nghiệt ngã. Năm Kỷ
Mão (679) vua Cao Tông nhà
Ðường chia đất Giao Châu ra
làm 12 châu, 59 huyện và đặt
An Nam đô hộ phủ. Nước ta
gọi là An Nam khởi đầu từ
đấy.
Mười hai Châu đời Ðường:
1. Giao Châu -
có 8 huyện (Hà
Nội, Nam
Ðịnh...).
2. Lục Châu - có
3 huyện (Quảng
Yên, Lạng Sơn).
3. Phúc Lộc Châu
- có 3 huyện
(Sơn Tây).
4. Phong Châu -
có 3 huyện (Sơn
Tây).
5. Thang Châu
-có 3 huyện.
6. Trường Châu -
có 4 huyện.
|
7. Chi Châu -có
7 huyện.
8. Võ Nga Châu
-có 7 huyện.
9. Võ An Châu-có
2 huyện.
10. Ái Châu - có
6 huyện (Thanh
Hóa)
11. Hoan Châu -
có 4 huyện (Nghệ
An)
12. Diễn Châu -
có 7 huyện (
Nghệ An)
|
Theo lệ cứ hàng năm phải
triều cống vua nhà Ðường.
Các cuộc nổi dậy của nhân
dân dành chủ quyền như: khởi
nghĩa của Mai Thúc Loan (năm
722), khởi nghĩa của Phùng
Hưng (năm 766-791).
Ðời
Ngũ Quí (năm 907 - 959):
Năm Đinh Mão (907) nhà Ðường
mất ngôi, nhà Hậu Lương, Hậu
Ðường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu
Chu, tranh nhau làm vua. Mỗi
nhà được mấy năm, gồm tất cả
52 năm, gọi là Ngũ Quí hay
là Ngũ Ðại. Tại nước ta liên
tục các cuộc dấy binh chống
lại đô hộ của phía Bắc và
các chính quyền tự chủ được
thành lập. |
|
Nguồn: TCDL
|