English

 
Trang chủ | Tour Du lịch | Thông tin Việt Nam | Thông tin Du lịch | Danh bạ Du lịch | Dịch vụ bổ trợ | Vui chơi / Giải trí | Cửa hàng lưu niệm
 Thông tin Việt Nam
Khái quát chung
Lịch sử Việt Nam
  Quốc hiệu
  Thời tiền sử
  Thời kỳ dựng nước
  Giai đoạn Bắc thuộc
  Giai đoạn độc lập
  Giai đoạn Pháp thuộc
  Nước Việt Nam
Văn hóa & Nghệ thuật
Lễ hội
Sứ quán/Lănh sự quán
Văn bản pháp luật
 Thông tin Du lịch
Địa danh du lịch
Bản đồ Việt Nam
Thị thực nhập cảnh (Visa)
Khí hậu Việt Nam
Thông tin cần thiết
Thống kê du lịch
Dự án đầu tư du lịch
Các thông tin khác
 Danh bạ du lịch
Công ty du lịch
Khách sạn
Nhà hàng
 Dịch vụ bổ trợ
Vé máy bay
Vé tàu hỏa
Vé open bus
Vé tàu thủy cao tốc
 Vui chơi / Giải trí
Biểu diễn nghệ thuật
Sân Golf
Món ăn
Bảo tàng & pḥng tranh
Các điểm du lịch Đặc sắc
  Cửa hàng lưu niệm
Bản đồ
Đồ lưu niệm
Sách & Hướng dẫn
CD & DVD
Đồ Mỹ nghệ
 

Hỗ trợ trực tuyến

Send message

Tel: (04) 39.059.059
Fax: (04) 3933.4659
Hotline: 0944 916 916

 

Số lượng Khách truy cập

 
Tour du lịch Quốc tế

Tour du lịch Thái lan

Tour Du lịch Singapore

Tour Du lịch Malaysia

Tour Du lịch Campuchia

Tour Du lịch Lào

Tour Du lịch Hồng Kông

Tour Du lịch Trung Quốc

 
  Lịch Sử Việt Nam

Nhà Trần

Nhà Trần trị v́ đất nước ta được 175 năm (1225 - 1400), qua 12 đời vua, bao gồm:

 
 - Trần Thái Tông (1225-1258)
 - Trần Thánh Tông (1258-1278)
 - Trần Nhân Tông (1279-1293)
 - Trần Anh Tông (1293-1314)
 - Trần Minh Tông (1314-1329)
 - Trần Hiển Tông (1329-1341)
- Trần Dụ Tông (1341-1369)
- Trần Nghệ Tông (1370-1372)
- Trần Duệ Tông (1372-1377)
- Trần Phế Đế (1377-1388)
- Trần Thuận Tông (1388-1398)
- Trần Thiếu Đế (1398-1400)

 
 ♦ Trần Thái Tông(1225-1258): 

Niên hiệu:
- Kiến Trung (1225-1231);
- Thiên ứng chính B́nh (1232-1250);
- Nguyên Phong (1251-1258).
 
Trần Cảnh sinh năm Mậu Dần (1218) cùng tuổi với Lư Chiêu Hoàng.
Nhờ Trần Thủ Độ thu xếp. Lư Chiêu Hoàng đă lấy Trần Cảnh và nhường ngôi cho Trần Cảnh (1225), lên làm vua, lấy niên hiệu là Trần Thái Tông. Chiêu Thánh Hoàng hậu lấy Thái Tông đă được 12 năm, tức là đă 19 tuổi mà vẫn chưa có con, trong khi triều Trần cần kíp phải có Hoàng tử. Bởi vậy Trần Thủ Độ bắt vua Trần Thái Tông bỏ Chiêu Thánh giáng xuống làm công chúa, rồi đem người chị của Chiêu Thánh là Thuận Thiên vợ của Trần Liễu đă có thai vào làm Hoàng hậu, Trần Liễu tức giận đem quân làm loạn. Vua Trần Thái Tông cũng đang đêm bỏ trốn lên chùa Phù Vân, núi Yên Tử (Quảng Ninh) tỏ ư phản đối. Trần Thủ Độ đem quần thần tới đón về. Trần Thái Tông từ chối, nói rằng: Trẫm c̣n nhỏ dại, không kham nổi việc to lớn, các quan nên chọn người khác để cho khỏi nhục xă tắc. Nói măi không chuyển. Thủ Độ ngoảnh lại nói với các quan: Hoàng thượng ở đâu là triều đ́nh ở đấy. 
 
Đền Thờ Trần Hưng Đạo

Nói đoạn truyền lệnh xây dựng cung điện ở chùa Phù Vân. Vị quốc sư ở chùa vào van lạy Trần Thái Tông về triều. Trần Thái Tông bất đắc dĩ phải theo xa giá về kinh.
 
Được ít lâu, Trần Liễu biết không địch nổi, đang đêm giả làm người đánh cá lẻn lên thuyền ngự xin hàng. Hai anh em ôm nhau mà khóc. Thủ Độ hay tin, tuốt gươm xông đến toan giết Trần Liễu. Trần Thái Tông lấy thân che cho anh, xin Thủ Độ tha cho Trần Liễu.
 
Vua Thái Tông tha cho Trần Liễu, cắt cho đất An Sinh làm thái ấp và phong cho làm An Sinh vương.
 
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông đầu năm Đinh Tỵ (1257), Thái Tông biết dựa vào Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn (Tức Hưng Đạo Vương, con của Trần Liễu) để lănh đạo nhân dân Đại Việt quyết chống giặc. Bản thân Trần Thái Tông cũng tự làm tướng đi đốc chiến, xông pha tên đạn.
 
Tháng 12 năm Đinh Tỵ (21/1/1258) vua Thái Tông cùng Thái tử Hoảng đă chỉ huy quân Trần phá tan quân Nguyên ở Đông Bộ Đầu, giải phóng Thăng Long.
 
Trần Thái Tông đă trở thành ông vua anh hùng cứu nước. Nhưng Thái Tông được sử sách lưu truyền c̣n bởi ông là một nhà Thiên học, một triết gia có những tư tưởng sâu sắc, một cốt cách độc đáo, là tác giả Khoá hư lục, một cuốn sách xưa nhất hiện c̣n giữ được trong kho thư tịch cổ nước ta.
 
Trong văn bản Khoá du lục, có bài. “Tự Thiền Tông chỉ nam” của Trần Thái Tông viết. Ông kể lại sự việc năm 1236 đang đêm bỏ cung điện vào núi và lư do trở về.
 
Có lẽ ít thấy trong lịch sử Phật giáo nước nào lại nêu vấn đề “quốc gia xă tắc” lên trên hết, trước hết như thế. Thái độ đối với “quốc gia xă tắc” là thước đo giá trị của mỗi người, bất kể họ ở cương vị nào. Nghe theo quốc gia xă tắc, Trần Thái Tông đă trở về triều để 22 năm sau đă lănh đạo nhân dân Đại Việt phá tan quân Nguyên. Trần Thái Tông là người có tính cách đặc biệt. Lúc làm vua th́ thân làm tướng đi đánh giặc “xông vào mũi tên ḥn đạn”, làm vua xem thường vinh hoa phú quư, có thể từ bỏ ngai vàng không chút luyến tiếc. Ông là gương mặt văn hoá đẹp và lạ đến khác thường trong lịch sử Việt Nam.
 
Mùa xuân năm Mậu Ngọ (1258), Thái Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Hoảng, một cách tập sự cho thái tử làm quen việc trị nước. Triều đ́nh tôn Thái Tông lên làm Thái Thượng Hoàng cùng trông coi việc nước.
 
Thái Tông trị v́ được 33 năm, làm Thái Thượng hoàng 19 năm th́ mất, thọ 60 tuổi.
 
 ♦ Trần Thánh Tông (1258-1278): 

Niên hiệu: Thiên Long (1258-1272); Bảo Phù (1273-1278).
Vua Thái Tông có 6 người con: Tĩnh Quốc Đại vương Trần Quốc Khang, Thái tử Hoảng, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật và các công chúa Thiều Dương, Thuỵ Bảo. 
 
Mùa xuân năm Mậu Ngọ (1258), Thái tử Hoảng sinh năm 1240 lên nối ngôi lấy hiệu là Thánh Tông.
 
Thánh Tông là vị vua nhân từ, trung hậu. Đối nội vua dốc ḷng xây dựng đất nước thái b́nh thịnh trị. Vua quan tâm đến việc giáo hoá dân, khuyến khích việc học hành, mở những khoa thi chọn người tài và trọng dụng họ. Do vậy, dưới triều vua Thánh Tông không chỉ có các ông hoàng hay chữ mà c̣n có những trạng nguyên tài giỏi như Mạc Đĩnh Chi. Bộ Đại Việt Sử kư, bộ quốc sử đầu tiên của nước ta, được Lê Văn Hưu hoàn thành vào năm Nhâm Thân (1272). 
 
Vua c̣n quan tâm đến dân nghèo bằng việc ra lệnh cho các vương hầu, pḥ mă chiêu tập những người nghèo đói lưu lạc để khai khẩn ruộng hoang, lập trang hộ. Trang điền có từ đấy. V́ vậy, 21 năm làm vua đất nước không có giặc giă. Nơi nơi dân chúng yên ổn làm ăn. 
 
Về đối ngoại, lúc này nhà Nguyên đă thôn tính xong nước Tống rộng lớn nhưng chưa đủ sức đánh Đại Việt. Khi vua Thái Tông nhường ngôi cho Thánh Tông, vua Mông Cổ sai sứ sang phong vương cho Thánh Tông. Nhà Nguyên không c̣n bắt Đại Việt thay đổi sắc phục và rập theo thể chế nhà nước chúng, nhưng lại bắt vua ta cứ 3 năm phải một lần cống nạp nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói, thầy tướng số và những nghệ nhân giỏi mỗi loại ba người cùng các sản vật: sừng tê, ngà voi, đồi mồi, châu báu vật là khác. Vua Nguyên c̣n đ̣i đặt quan Chưởng ấp để đi lại, giám sát các châu quận Đại Việt, thật ra để nắm t́nh h́nh mọi mặt, toan đặt cương thường trực cho nước láng giềng. Vua Trần Thánh Tông thừa biết giă tâm xâm lược của nhà Nguyên, nên tuy bề  ngoài thần phục, nhưng vẫn khẩn trương tuyển mộ binh lương, luyện quân sĩ sẵn sàng đối phó. Năm Bính Dần (1266), vua Nguyên cho sang giục cống nạp. Vua Thánh Tông sai sứ sang xin miễn việc cống người và băi bỏ việc đặt quan giám trị. Vua Nguyên bằng ḷng bỏ việc cống người nhưng lại bắt tuân thủ 6 điều khác: Vua phải thân vào chầu khẩu, phải chịu việc binh dịch, phải nộp thuế má và cứ giữ lệ đặt quan giám trị. 
 
Vua Đại Việt lần nữa thoái thác không chịu. Năm Tân Mùi (1271), vua Mông Cổ Hốt Tất Liệt nhân đổi quốc huyện là Đại Nguyên đ̣i vua Thánh Tông. Vua Thánh Tông cáo bệnh không đi. Chúng cho sứ sang t́m cột đồng trụ của Mă Viện trồng ngày trước, vua Thánh Tông trả lời rằng: Cột ấy lâu ngày đă mất. 
 
Nh́n chung, vua Trần Thánh Tông thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo nhưng rất kiên quyết, nhằm bảo vệ danh dự của Tổ quốc, ngăn chặn từ xa mọi sự ḍm ngó, tạo cơ xâm lược của nhà Nguyên. 
 
Năm Đinh Sửu (1277), Thái Thượng hoàng Trần Thái Tông mất ở phủ Thiên Trường (Tức Mạc). Năm sau, vua Thánh Tông nhường ngôi cho con là Thái Khâm rồi về ở phủ Thiên Trường làm Thái thượng hoàng. 
 
Vua Trần Thánh Tông trị v́ được 21 năm, làm Thái Thượng Hoàng được 3 năm, thọ 51 tuổi.
 
 ♦ Trần Nhân Tông(1279-1293): 
 
Niên hiệu:
-
Thiệu Bảo (1279-1284);
- Trùng Hưng (1285-1293).
 
Vua Trần Thánh Tông có 3 con, Thiên Thuỵ công chúa, Thái tử Khâm và Tả Thiên Vương Đức Việp. Năm Kỷ Măo (1279), Thái tử Khâm sinh năm Mậu Ngọ (1258) kế vị ngôi vua, lấy tên là Nhân Tông.
 
Trần Nhân Tông là vị vua anh minh, quyết đoán, được sử sách ngợi ca là vị anh hùng cứu nước. Thời gian Trần Nhân Tông trị v́, nước Đại Việt đă trải qua những thử thách ghê gớm.
 
Ngay sau khi Trần Nhân Tông lên ngôi, nhà Nguyên liền sai Lệ bộ Thượng thư sang sứ Đại Việt. Sài Thung đến kinh thành, lên mặt kiêu ngạo, cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh, rồi cho người đưa thư trách vua Trần Nhân Tông tự lập ngôi vua và đ̣i phải sang chầu thiên triều. 
 
Vua sai đại thần ra tiếp, Thung không thèm đáp lễ, vua mời yến, hắn không thèm đến. Năm Nhâm Ngọ (1282) vua Nguyên lại cho sứ sang dụ: Nếu vua nước Nam không sang chầu được th́ phải đưa vàng, ngọc sang thay, và phải nộp hiền sĩ, thầy âm dương bói toán, thợ khéo tay, mỗi hạng 2 người. Trần Nhân Tông đành cho chú họ là Trần Di Ái và bọn Lê Tuân, Lê Mục sang thay ḿnh. Vua Nguyên bèn lập Trần Di Ái làm An Nam Quốc vương, Lê Mục làm Hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm Thượng thư lệnh, và sai Sài Thung dẫn 1000 quân đưa bọn ấy về nước. Hay tin, Trần Nhân Tông sai tướng đem quân lên đón đường đánh lũ nghịch thần. Sài Thung bị tên bắn mù một mắt, trốn chạy về nước, c̣n lũ Trần Di Ái bị bắt, phải tội đi làm lính. Thấy không thể thu phục được vua Trần, Nhà Nguyên liên tiếp phát động 2 cuộc chiến tranh xâm lược vào các năm 1285, 1287 toan làm cỏ nước Nam. Trong 2 lần kháng chiến này. Trần Nhân Tông đă trở thành ngọn cờ kết chặt ḷng dân, lănh đạo nhân dân Đại Việt vượt qua bao khó khăn đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi huy hoàng.
 
Sau 14 năm làm vua, Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông rồi làm Thái thượng hoàng và đi tu, trở thành thuỷ tổ phái Thiền Trúc Lâm, Yên Tử, một phái Thiền để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Nhân Tông thật sự là một triết gia lớn của Phật thể hiện được đủ trí tuệ, bản lĩnh Việt Nam. Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông là tinh thần thực tiễn, chiến đấu và táo bạo.
 
Anh hùng cứu nước, triết nhân, thi sĩ là phẩm chất kết hợp hài hoà trong con người Nhân Tông. Về phương diện thi sĩ Nhân Tông có tâm hồn thanh cao, phóng khoáng, một cái nh́n tinh tế, tao nhă. 
 
Trần Nhân Tông qua đời năm Mậu Thân 1308 tại am Ngoạ Vân, núi Yên Tử (Đông Triều, Quảng Ninh).
 
♦ Hưng Đạo Đại Vương - Trần Quốc Tuấn:
 
Trần Quốc Tuấn (1228-1300) là một danh nhân kiệt xuất của dân tộc đồng thời là danh quân sự cổ kim của thế giới. Ngay từ nhỏ, Trần Liễu đă kén những thầy giỏi dạy cho Quốc Tuấn, kư thác vào con hội đủ tài văn vơ, mong trả mối thù sâu nặng năm nào. Lớn lên Quốc Tuấn càng tỏ ra thông minh xuất chúng, đọc rộng các sách cả văn lẫn vơ. Trong đời ḿnh, Quốc Tuấn đă trải qua một lần gia biến, 3 lần nạn nước. Nhưng ông lại càng tỏ ra là người hiền tài, một vị anh hùng cứu nước. Ông luôn đặt lợi nước lên trên thù nhà, vun trồng cho khối đoàn kết giữa tông tộc họ Trần, tạo cho thế nước ở đỉnh cao ngàn trượng đủ sức đè bẹp quân thù. Trong lần quân Nguyên sang xâm lược lần thứ 2, thấy rơ nếu ngành trưởng, ngành thứ xung khắc, giữa ông và Trần Quang Khải không chung sức chung ḷng th́ kẻ có lợi chỉ có thể là quân giặc. Bởi vậy Quốc Tuấn đă chủ động giao hảo hoà hiếu với Trần Quang Khải, tạo nên sự thống nhất ư chí của toàn bộ vương triều Trần, đảm bảo thắng quân Nguyên hùng mạnh.
 
Ba lần chống giặc các vua Trần đều giao cho ông quyền thiết chế. (Tổng tư lệnh quân đội), v́ ông biết dùng người tài, thương yêu binh lính v́ vậy tướng sĩ hết ḷng thương yêu ông. Đạo quân cha con ấy trở thành đội quân bách chiến bách thắng. Trần Quốc Tuấn là bậc tướng trụ cột triều đ́nh. Ông đă soạn hai bộ binh thư. Binh thư yếu lược và vạn kiếp tống bí truyền thư để răn dậy các tướng cầm quân đánh giặc. Khi giặc Nguyên lộ rơ ư đồ xâm lược, Trần Quốc Tuấn viết hịch “Hịch tướng sĩ”, truyền lệnh cho các tướng, dạy họ bảo họ lẽ thắng bại, tiến lui. Hịch tướng sĩ rất hùng hồn, thống thiết, khẳng định văn chương của một bậc “Đại bút”. Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng gồm đủ tài đức. Là tướng nhân, ông thương dân thương quân, chỉ cho họ con đường sáng. Là tướng nghĩa, ông coi việc phải hơn điều lợi. Là tướng trí, ông biết lẽ đời sẽ dẫn đến đâu, là tướng dũng ông xông pha nơi nguy hiểm để đánh giặc, tạo lên những trận Bạch Đằng oanh liệt ngh́n đời. Là tướng tín, ông bày tỏ trước quân lính theo ông sẽ được ǵ, trái lời ông sẽ gặp hoạ, cho nên, cả ba lần đánh giặc Nguyên, ông đều được giao trọng trách điều sát binh mă và đều lập được công lớn. 
 
Mùa thu tháng Tám, ngày 20 năm Canh Tư (1300 ) “B́nh Bắc đại nguyên soái” Hưng Đạo Vương qua đời. Theo lời ông dặn, thi hài ông được hoả táng thu vào b́nh đồng và chọn trong vườn An Lạc, gần cánh rừng An Sinh, không xây lăng mộ, đất san phẳng trồng cây như cũ. Vua gia phong cho chức Hưng Đạo đại vương. Triều đ́nh lập đền thờ ông tại Vạn Kiếp, Chí Linh, ấp phong của ông lúc sinh thời.
 
♦ Thượng tướng, Thái sư - Trần Quang Khải:
 
Trần Quang Khải (1244-1294), là con trai vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh). Dưới triều vua Trần Thánh Tông (anh ruột Quang Khải), Trần Quang Khải được phong tước Chiêu Minh Đại Vương. Năm Giáp Tuất (1274), Ông được giao chức Tướng quốc thái uư. Năm Nhâm Ngọ (1282), dưới triều vua Nhân Tông, Trần Quang Khải  được cử làm Thượng thái sư, nắm toàn quyền nội chính, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai và thứ ba, Trần Quang Khải là vị tướng chủ chốt thứ hai, sau Trần Quốc Tuấn và có nhiều công lớn. Chính Trần Quang Khải đă chỉ huy quân Trần đánh tan quân Nguyên ở Chương Dương và Thăng Long, những trận then chốt nhằm khôi phục kinh thành vào cuối tháng 5 năm Ất Dậu (1285).
 
Bên cạnh năng lực quân sự, Trần Quang Khải c̣n là một nhà thơ có vị trí không nhỏ trong văn học sử Việt Nam. Ông là tác giả “Lạc Đạo” đă thất truyền và theo lời b́nh của Phan Huy Chú, thơ ông “thanh thoát, nhàn nhă, sâu xa, lư thú”. 
 
Trần Quang Khải, một cuộc đời lớn, vừa làm chủ tướng, vừa làm tướng, vừa đánh giặc vừa làm thơ.
 
♦ Chiêu Văn Vương - Trần Nhật Duật:
 
Trần Nhật Duật (1253-1330), con trai thứ tư của Trần Thái Tông, người có công lớn trong việc chỉ huy quân Trần đánh thắng giặc Nguyên, từng được phong Thái uư quốc công với Chiêu Văn đại vương, từ bé đă nổi tiếng là ông hoàng hiếu học và “sớm lộ thiên tri”, ham thích hiểu biết về các tiếng nói và các giống người. Có thể nói, tuổi trẻ của Trần Nhật Duật là những năm tháng miệt mài rèn luyện để thành tài. V́ vậy, Nhật Duật nổi tiếng hiểu nhiều biết rộng. Uy tín của vị vương c̣n vang dội cả nước ngoài do hiểu biết sâu rộng về các nước láng giềng. Học biết tiếng Tống, tiếng Chiêm Thành, Nhật Duật chẳng những chỉ sử dụng thành thạo những ngôn ngữ ấy mà c̣n am hiểu nhiều mặt của các nước đó kể cả phong tục, tập quán của họ. Đối với các dân tộc trong nước, Nhật Duật không chỉ hiểu tiếng mà c̣n hiểu cả về người.
 
 ♦ Trần Anh Tông (1293-1314): 

Niên hiệu: Hưng Long.
Vua Nhân Tông có ba người con: Anh Tông Thuyên, Huệ vơ vương Quốc Chẩn và công chúa Huyền Trân. Năm Quư Tỵ (1293), Nhân Tông truyền ngôi cho con cả là Thái tử Thuyên. Thái tử Trần Thuyên sinh năm Bính Tư (1276) lên làm vua lấy hiệu là Anh Tông. Năm Giáp Dần (1314) Anh Tông nhường ngôi cho thái tử Mạnh rồi về làm Thái thượng hoàng ở phủ Thiên Trường đến năm Canh Thân (1320) th́ mất. Anh Tông trị v́ 21 năm thọ 54 tuổi.
 
 ♦ Trần Minh Tông (1314-1329): 
 
Niên hiệu:
- Đại Khánh (1314-1323);
- Khai Thái (1324-1329).
 
Năm Giáp Dần (1314) Thái tử Mạnh, sinh năm Canh Tư (1300) lên nối ngôi lấy hiệu là Minh Tông. Minh Tông có ḷng nhân hậu, hay thương người nhưng xét việc chưa minh. Năm Ất Măo (1315) vua định lệ cấm người trong họ không được kiện cáo nhau. Năm Quư Hợi (1323), mở khoa thi Thái học sinh chọn người tài ra giúp nước. Nhờ biết tôn trọng kẻ sĩ nên vua Minh Tông đă có dưới trướng ḿnh những kẻ hiền thần như Đoàn Nhữ Hài, Phạm Ngũ Lăo, Trương Hán Siêu, Nguyễn Văn Ngạn, Chu Văn An giúp rập. Tuy nhiên do quá tin vào bọn nịnh thần, vua giết oan Huệ vơ vương Trần Quốc Chẩn, một người có công, đồng thời là Quốc trượng (bố vợ) ḿnh. Trần Quốc Chẩn thân sinh ra Hoàng hậu Lê Thánh (vợ Minh Tông). Ông có công mấy lần đánh tan quân Chiêm Thành gây hấn. Như v́ lúc ấy Hoàng hậu chưa sinh Hoàng tử nên trong việc chọn Thái tử triều thần phân ra làm hai phái chủ trương trái ngược nhau: một phái do Trần Quốc Chẩn đứng đầu muốn chờ Hoàng hậu sinh con trai rồi sẽ lập Thái tử. Một phái do Văn Hiến hầu Trần Khắc Chung xin lập Hoàng tử Vượng là con một quư phi làm Thái tử. Việc chưa ngă ngũ th́ Văn Hiến Hầu cho tên Trần Nhạc là đầy tớ của Trần Quốc Chẩn 100 lạng vàng, xui nó vu cáo Quốc Chẩn mưu làm phản. Vua Minh Tông liền bắt Quốc Chẩn giam ở chùa Tư Phúc. Nhân đó Trần Khắc Chung xin vua trừ Quốc Chẩn đi, lấy cớ : “bắt hổ th́ dễ, thả hổ th́ khó”. Minh Tông nghe theo, không cho Quốc Chẩn ăn uống ǵ cả. Biết cha ḿnh khát, Hoàng hậu Lê Thánh phải lấy áo nhúng nước mặc vào rồi vắt ra cho uống, cuối cùng Quốc Chẩn bị chết. Sau có người vợ lẽ của Trần Nhạc ghen với vợ cả tố cáo sự thật. Nỗi oan được giải nhưng một trung thần đă chết. Minh Tông làm vua đến năm Kỷ Tỵ (1329) th́ nhường ngôi cho Thái tử Vượng, về làm Thái thượng hoàng.
 
 ♦ Trần Hiển Tông (1329-1341):  
 
Niên hiệu: Khai Hưu.
Thái tử Vượng sinh năm Kỷ Mùi (1319), mới 10 tuổi lên nối ngôi, hiệu là Hiển Tông. Hiển Tông trị v́ nhưng việc điều khiển triều chính, kể cả việc dẹp loạn Ngưu Hống ở Đà Giang, đánh quân Ai Lao xâm phạm bờ cơi đều do Thượng hoàng Minh Tông đảm nhận.
 
Hiển Tông làm vua đến năm Tân Tị (1341) th́ mất, ở ngôi được 13 năm, thọ 23 tuổi.
 
 ♦ Trần Dụ Tông (1341-1369): 
 
Niên hiệu:
- Thiệu Phong (1341-1357);
- Đại Trị (1358-1369).
Hiển Tông không có con nên việc truyền ngôi báu do Thượng hoàng xếp đặt. Thượng hoàng Minh Tông có 7 con trai: Hiển Tông vương, Cung Túc vương Dục, Cung Định vương Trạch, Dụ Tông Hạo, Cung Tĩnh vương Nguyên Trạch, Nghệ Tông Phủ, Duệ Tông Kính.
 
Hiển Tông mất, Thượng hoàng lập người con tên là Hạo, sinh năm Bính Ngọ (1336) lên làm vua, hiệu là Dụ Tông. Những năm đầu mọi việc quyền bính đều do Thượng hoàng Minh Tông điều khiển. Bởi thế, dù có mất mùa dân đói nhưng việc chính trị c̣n có nền nếp. Từ năm 1358 trở đi, Thượng hoàng mất, các cựu thần như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn cũng không c̣n, triều đ́nh bắt đầu rối loạn. Bọn gian thần kéo bè, kết đảng lũng đoạn triều chính. Chu Văn An dâng “thất trảm sớ”, xin chém 7 gian thần nhưng vua không nghe, ông liền bỏ quan về dạy học. Đă thế vua Dụ Tông ham chơi bời, rượu chè, xây cung điện để đánh bạc, mở tiệc bắt các quan thi nhau uống rượu, ai uống 100 thăng th́ thưởng cho 2 trật... khiến cho triều đ́nh thối nát, loạn lạc nổi lên như ong. Nhân dân cực khổ trăm bề.
 
Bên ngoài nhà Minh mới đánh bại nhà Nguyên c̣n bận sửa sang việc nước chưa ḍm ngó đến Đại Việt. Trái lại, Chiêm Thành thấy nhà Trần suy yếu, có ư coi thường, muốn đ̣i lại đất Thuận Hoá. Vua Chiêm là Chế Bồng Nga mấy lần đem quân đánh phá thành Thăng Long khiến triều Trần nhiều phen khốn đốn.
 
Năm Kỷ Dậu (1469) vua Dụ Tông mất th́ băo táp đă nổi lên ở cung đ́nh. Nguyên do Dụ Tông không có con. Triều đ́nh lập Cung Định vương là anh Dụ Tông lên làm vua nhưng bà Hoàng thái hậu nhất định đ̣i lập người con nuôi của Cung Túc vương là Dương Nhật Lễ lên ngôi. Nguyên mẹ Nhật Lễ là một đào hát, lấy một kép hát bội là Dương Khương có thai rồi mới bỏ Dương Khương mà lấy Cung Túc vương sinh ra Nhật Lễ. Nay lên làm vua. Nhật Lễ muốn cải họ Dương để dứt ngôi nhà Trần rồi giết bà Hoàng thái hậu cùng Cung Định vương. Cung Tĩnh vương vốn nhu nhược thấy thế bỏ trốn lên mạn Đà Giang. 
 
Trước t́nh h́nh nội chính rối ren, các tôn thất nhà Trần hội nhau khởi binh về bắt giết Nhật Lễ rồi rước Cung Tĩnh Vương về làm vua, tức vua Trần Nghệ Tông.
 
 ♦ Trần Nghệ Tông (1370-1372): 
 
Niên hiệu: Thiệu Khánh.
Cung Tĩnh Vương sinh năm Ất Sửu (1324), do các tôn thất nhà Trần pḥ giúp, lên ngôi năm Canh Tuất (1370). Nghệ Tông lên vua chưa được bao lâu đă phải lao đao chạy giặc. Nguyên do, khi Nhật Lễ bị giết, mẹ Nhật Lễ chạy vào Chiêm Thành cầu cứu vua Chế Bồng Nga đem quân đánh Đại Việt. Quân Chiêm vượt bể vào cửa Đại An tiến đánh Thăng Long. Quân Trần không chống nổi, phải bỏ kinh thành. Vua Nghệ Tông chạy sang Đông Ngàn (Đ́nh Bảng, Bắc Ninh) lánh nạn. Quân Chiêm Thành vào thành đốt sạch cung điện bắt đàn bà con gái, lấy hết vàng bạc châu báu rồi rút quân về. Vua nhu nhược, bất lực không điều khiển nổi triều chính phải trao cho Hồ Quư Ly nhiều quyền hành. Hồ Quư Ly có hai người cô lấy vua Minh Tông. Một người là Minh Từ hoàng hậu sinh ra vua Nghệ Tông, một người là Đôn từ hoàng hậu sinh ra vua Duệ Tông. V́ vậy, Nghệ Tông tin dùng phong Hồ Quư Ly làm khu Mật Đại Sứ tại gia tước Trung Truyên Hầu.
 
Năm Nhâm Tư (1372), Nghệ Tông truyên Ngôi cho em là Kính rồi về phủ Thiên Trường làm Thái Thượng Hoàng.
 
 ♦ Trần Duệ Tông (1372-1377): 
 
Niên Hiệu: Long Khánh.
Trần Kính sinh năm Đinh Mùi (1337), lên ngôi lấy hiệu là Duệ Tông, lập em họ Hồ Quư Ly là Lê Thị làm Hoàng hậu. Duệ Tông quyết đoán hơn nhưng không thể làm được ǵ v́ quyền bính vẫn do Thái thượng hoàng nắm giữ. Năm Giáp Dần (1374), vua cho mở khoa thi tiến sĩ thay cho thi Thái học sinh, lấy được 50 người ban cho mũ áo vinh quy.
 
Việc nổi cộm nhất dưới thời Duệ Tông là chiến tranh với Chiêm Thành. Năm Bính Th́n (1376), quân Chiêm sang đánh Hoá Châu (Nghệ An). Thấy Chiêm Thành luôn xâm phạm bờ cơi Đại Việt, vua Duệ Tông quyết thân chinh đem quân đi trừng phạt. Vua sai quân dân Thanh Hoá, Nghệ An vận tải 5 vạn thạnh lương vào Hoá Châu rồi rước Thượng hoàng dự lễ duyệt binh. Có lẽ v́ sợ, Chế Bồng Nga sai người sang cống 15 mâm vàng. Nhưng quan trấn thủ Hoá Châu là Đỗ Tử B́nh ỉm đi rồi dâng sớ nói dối rằng Chế Bồng Nga ngạo mạn, vô lễ, xin vua cử binh đi đánh. Được tin ấy, vua Duệ Tông sai Quư Ly dốc lương vận lương thực đến cửa biển Di Luân (Quảng B́nh) rồi tự dừng quân 1 tháng để luyện tập sĩ tốt. Đến tháng giêng năm Đinh Tỵ (1377) tiến quân vào cửa Thị Nại (Quy Nhơn) đánh lấy đồn Thạch Kiêu và động Kỳ Mang rồi tiến vào Đồ Bàn, Kinh đô vua Chiêm. Chế Bồng Nga lập đồn giữ ở ngoài thành, cho người trá hàng nói Chế Bồng Nga đă bỏ thành chạy trốn xin tiến binh ngay. Duệ Tông tưởng thật truyền lệnh tiến binh vào thành. Đại tướng Đại Việt là Đỗ Lễ can măi vua không nghe. Khi quân Việt đến chân thành Đồ Bàn, quân Chiêm từ bốn phía đổ ra đánh. Quan quân thua to. Vua Duệ Tông chết trong đám loạn quân. Bọn Đỗ Tử B́nh lĩnh hậu quân, hèn nhát không đem quân lên cứu, Hồ Quư Ly cũng bỏ chạy. Thế mà về kinh Hồ Quư Ly không hề bị trách cứ, Đỗ Tử B́nh chỉ bị giáng xuống làm lính mà thôi.
 
 ♦ Trần Phế Đế (1377-1388): 
 
Niên hiệu: Xương Phù.
Thượng hoàng Nghệ Tông được tin vua Duệ Tông chết trận bèn lập con Duệ Tông là Hiền, sinh năm Tân Sửu (1361), lên nối ngôi, Hiệu là Phế Đế. Nhưng mọi quyền bính vẫn do Thượng hoàng nắm giữ. Nước Đại Việt những năm này bị Chiêm Thành quấy nhiễu, cướp bóc dữ dội. Ngay sau khi giết được vua Duệ Tông, Chế Bồng Nga huy động quân Chiêm tiến đánh và cướp bóc Thăng Long. 
 
Năm Mậu Ngọ (1378), quân Chiêm lại sang đánh Nghệ An, rồi theo sông Đại Hoàng cướp bóc Thăng Long lần nữa. Năm Canh Thân (1380) rồi năm Nhâm Tuất (1382) quân Chiêm lại xâm phạm bờ cơi Đại Việt. Nhưng hai lần này chúng bị đánh bại. Tháng 6 năm Quư Hợi (1383), vua Chiêm Thành Chế Bồng Nga lại đem quân tiến đánh Đại Việt. Thượng hoàng Nghệ Tông sai tướng Mật Ôn gia giữ ở châu Tam Kỳ (Quốc Oai). Nhưng Mật Ôn thua trận bị bắt sống. Thượng hoàng sợ hăi sai Nguyễn Đa Phương ở lại giữ kinh thành c̣n ḿnh và vua Phế Đế chạy sang Đông Ngàn. Có người thấy vậy níu thuyền lại xin Thượng hoàng cứ ở lại kinh sư mà chống giặc. Nhưng Thượng hoàng không nghe. Lần nữa quân Chiêm lại tàn phá Thăng Long. Vậy mà khi giặc rút về Thượng hoàng và vua không lo việc pḥng bị mà chỉ lo mang của cải đi chôn giấu. Và để cứu kho tàng trống rỗng v́ chiến tranh, nhà vua đă tăng sưu thuế, hơn thế nữa, nhà vua bắt mỗi suất đinh mỗi năm phải đóng 3 quan tiền thuế, (Thuế thanh sinh ra từ đây) khiến cho muôn dân ngày càng cực khổ. 
 
Trong khi ấy, ở phương Bắc, nhà Minh bắt đầu ḍm ngó Đại Việt. Năm Giáp Tư (1384), Minh Thái Tổ sai sứ sang Đại Việt đ̣i cấp 5 ngàn thạch lương cho quân Minh ở Vân Nam, cùng nhiều cống phẩm quư giá khác.
 
Trước t́nh h́nh quốc chính ră rời, nhiều tôn thất nhà Trần chỉ lo cho cá nhân ḿnh, xin về trí sĩ. Thượng hoàng nghe lời Quư Ly xuống chiếu trách nhà vua Phế Đế trẻ con, lại có ư làm hại kẻ công thần, làm nguy xă tắc nên giáng xuống làm Minh Đức đại vương và lập Chiêu Định Vương là con Nghệ Tông lên nối ngôi.
 
Thấy Thượng hoàng mê muội, một số tướng toan đem quân vào điện cứu vua Phế Đế. Nhưng vua viết hai chữ “Giải Giáp”, ư không muốn trái lệnh thượng hoàng. Sau đó vua Phế Đế bị thắt cổ chết, các tướng đồng mưu giết Quư Ly đều bị sát hại.
 
 ♦ Trần Thuận Tông(1388-1398): 
 
Niên Hiệu: Quang Thái.
Nghệ Tông thượng hoàng nghe Quư Ly, giết Phế Đế rồi lập con út của ḿnh là Chiêu Đinh vương sinh năm Đinh Tỵ (1377) lên làm vua, tức là vua Thuận Tông.
 
Hồ Quư Ly gả con gái Khâm Thánh cho Thuận Tông rồi chuyên quyền gài tay chân thân tín nắm giữ những chức vụ then chốt trong triều đ́nh và trong quân đội. Thực trạng đó khiến cho ḷng dân hoang mang bất phúc, nên loạn lạc nổi lên ở nhiều nơi. Kiệt liệt hơn cả là cuộc nổi dậy của nhà sư Phạm Sư Ôn ở Quốc Oai  (Sơn Tây). Về sau Sư Ôn bị một bộ tướng của triều đ́nh là Hoàng Phùng Thế đánh, bắt được.
 
Năm Kỷ Tỵ (1389) Chế Bồng Nga lại đem quân tiến đánh Đại Việt. Vua sai Hồ Quư Ly đem quân cự chiến. Nhưng Hồ Quư Ly thua trận phải rút chạy. Cuối năm ấy Chế Bồng Nga lại tiến vào sông Hoàng Giang để đánh chiếm Thăng Long. Thượng hoàng sai đô tướng Trần Khát Chân đem chiến binh đi chặn giặc.
 
Tháng giêng năm Canh Ngọ (1390), Chế Bồng Nga đi thị sát trận địa của Trần Khát Chân. Bấy giờ có hàng binh Chiêm Thành cho Khát Chân hay dấu hiệu đặc biệt của Chiêm Thành, đặc biệt của chiến thuyền chở Chế Bồng Nga trong số cả trăm thuyền đang tiến vào trận địa. Khát Chân ra lệnh mọi loại vũ khí bắn vào thuyền ấy. Chế Bồng Nga trúng tên chết. Quan quân được thế đổ ra đánh, quân Chiêm đại bại. Khát Chân lấy đầu Chế Bồng Nga đem dâng triều đ́nh. Tướng Chiêm Thành là La Khải đem 5 tàn quân về nước chiếm lấy ngôi vua Chiêm. Hai người con Chế Bồng Nga chạy sang hàng Đại Việt, được vua Trần trọng dụng.
 
Trừ xong giặc Chiêm Thành, Hồ Quư Ly càng thao túng triều đ́nh. Những người không ăn cánh với ḿnh, trừ con cái Trần Nguyên Đán, Quư Ly đều xui Thượng hoàng giết đi. Nhiều hoàng tử, thân vương đều bị sát hại.
 
Tháng Chạp năm Giáp Tuất (1394) Thượng hoàng Nghệ Tông mất. Trị v́ được 3 năm, làm Thái thượng hoàng 27 năm, thọ 74 tuổi. Người đương thời cho Nghệ Tông là ông vua “Chí khí đă không có, trí tuệ cũng kém, để cho gian thần lừa đảo, giết hại cả con cháu họ hàng, xa bỏ những trung thần nghĩa sĩ, cứ tin dùng một Quư Ly cho được quyền thế đến nỗi làm xiêu đổ cả cơ nghiệp nhà Trần”.
 
Nghệ Tông mất rồi, Quư Ly lên làm Phụ chính thái sư dịch sách để dạy vua, thâu tóm trọn binh quyền trong triều ngoài lộ. Để dễ đường thoán đoạt, Quư Ly quyết định dời đô vào Thanh Hoá, xây Tây Đô (Xă Yên Tôn, Vĩnh Lộc). Năm 1397, Quư Ly bắt vua Thuận Tông phải dời kinh về Tây Đô. Tháng Ba năm sau, Quư Ly ép vua nhường ngôi để đi tu. Thuận Tông buộc phải nhường ngôi cho con rồi đi tu ở cung Bảo Thanh tại núi Đại Lại (Thanh Hoá).
 
 ♦ Trần Thiếu Đế(1398-1400): 
 
Niên hiệu: Kiến Tân.
 
Hồ Quư Ly bắt vua Thuận Tông nhường ngôi cho Thái tử Án lúc đó mới có 3 tuổi lên kế nghiệp tức là vua Thiếu Đế. Hồ Quư Ly tự xưng là Khâm Đức Hưng Liệt đại vương rồi sai người giết Thuận Tông, con rể ḿnh.
 
Triều Trần lúc đó có Thái bảo Trần Nguyên Hăn, Thượng tướng quân Trần Khát Chân lập hội tề mưu trừ Quư Ly. Việc bại lộ Hồ Quư Ly cho giết tất cả 370 người. Sau đấy, Hồ Quư Ly lại xưng là Quốc Tế Thượng Hoàng ở cung Nhâm Ngọ ra vào dùng nghi lễ Thiên tử. Đến tháng hai năm Canh Th́n (1400) Hồ Quư Ly bỏ Thiếu Đế rồi tự xưng làm vua, lật đổ nhà Trần lập nên nhà Hồ.
 
Như vậy, triều Trần kể từ Thái Tông Trần Cảnh đến Trần Thiếu Đế, là 12 ông vua, trị v́ được 175 năm.
 
Cơ nghiệp nhà Trần bắt đầu suy từ vua Dụ Tông và Nghệ Tông. Dụ Tông th́ ham chơi, không lo đến chính sự, làm loạn cả kỷ cương phép nước, làm dân nghèo nước yếu để kẻ quyền thần được thể làm loạn, tự ḿnh nối giáo cho giặc khiến cơ nghiệp nhà Trần tan vỡ.

Nguồn: TCDL

 

Thông tin khác
    Khái quát chung
    Khí Hậu
    Địa h́nh
    Tài nguyên
  
Tour khởi hành từ Hà nội

Tour Tham quan Hà nội

Tour Hạ long - Cát Bà

Tour Sapa - Bắc Hà

Thăm chiến trường xưa

Di sản Miền Trung

Nha Trang - Đà Lạt - Mũi Né

Hành tŕnh Xuyên Việt

 
 
Tour khởi hành Miền Trung

Tour khởi hành từ Huế

Tour khởi hành từ Đà nẵng

Tour khởi hành từ Nha Trang

Tour khởi hành từ Đà lạt

 
Tour khởi hành từ Sài g̣n

Tour Tham quan Sài g̣n

Soạn: AM 882601 gửi đến 996 để nhận ảnh này

Tour Du lịch Mekong

Nha Trang - Đà lạt - Mũi Né

Hành tŕnh di sản Miền Trung

 
 
 
 
 
 
   © Copyright Công ty Cổ phần Tập đoàn NTT    
Cruise Halong | Vietnam Cheap Tours | Viajar a Vietnam | Du lịch Cao Cấp | Tour Du lịch | Du lịch Việt Nam | Vietnam Viajes | Vietnam Hotels | Vé tàu hỏa
Vé tàu Sapa | Du lịch Tây Nguyên | Dịch Vụ Cho thuê xe | Hanoi Travel | Ohayo Tours