Do nhu cầu trị thuỷ, nhu cầu
chống ngoại xâm và do việc
trao đổi kinh tế, văn hoá
ngày càng gia tăng, các bộ
lạc sinh sống gần gũi nhau
có xu hướng tập hợp và thống
nhất lại. Trong số các bộ
lạc Lạc Việt, bộ lạc Văn
Lang hùng mạnh hơn cả. Thủ
lĩnh bộ lạc này là người
đứng ra thống nhất tất cả
các bộ lạc Lạc Việt, dựng
lên nước.
♦
Văn Lang - Tồn tại 2671 năm
(2876 trước CN - 258 trước
CN):
Văn Lang, tự xưng là vua
- mà sử cũ gọi là Hùng Vương
và con cháu ông nhiều đời về
sau vẫn nối truyền danh hiệu
đó.
Căn cứ vào các tài liệu sử
học, có thể tạm xác định địa
bàn nước Văn Lang tương ứng
với vùng Bắc Bộ và Bắc Trung
Bộ nước ta hiện nay cùng với
một phần phía nam Quảng Đông,
Quảng Tây (Trung Quốc).
♦
Âu Lạc -
Tồn tại 50 năm (257
trước CN - 207 trước CN):
Năm 221 TCN, Tần Thuỷ Hoàng
cho quân xâm lược đất của
toàn bộ các nhóm người Việt.
Thục Phán - thủ lĩnh liên
minh các bộ lạc Âu Việt -
được tôn làm người lănh đạo
cuộc chiến chống Tần. Năm
208 TCN, quân Tần phải rút
lui. Với uy thế của ḿnh,
Thục Phán xưng vương (An
Dương Vương), liên kết các
bộ lạc Lạc Việt và Âu Việt
lại, dựng nên nước
Âu Lạc.
Năm 207 TCN, Triệu Đà - vua
nước Nam Việt - tung quân
đánh chiếm Âu Lạc. Cuộc
kháng cự của An Dương Vương
thất bại. Suốt 7 thế kỷ tiếp
đó, mặc dù các thế lực phong
kiến phương Bắc thay nhau đô
hộ, chia nước ta thành nhiều
châu, quận với những tên gọi
khác lạ mà chúng đặt ra,
nhưng vẫn không xoá nổi cái
tên "Âu Lạc" trong ư thức,
t́nh cảm và sinh hoạt thường
ngày của nhân dân ta.
♦
Vạn Xuân - Tồn tại 58 năm
(544-602)
Mùa
xuân năm 542, Lư Bí khởi
nghĩa đánh đuổi quân Lương,
giải phóng lănh thổ. Tháng
2/544, Lư Bí lên ngôi Hoàng
đế, đặt quốc hiệu là
Vạn Xuân, khẳng
định niềm tự tôn dân tộc,
tinh thần độc lập và mong
muốn đất nước được bền vững
muôn đời.
Chính quyền Lư Bí tồn tại
không lâu rồi lại rơi vào
ṿng đô hộ của các triều đại
phong kiến Trung Quốc (từ
năm 602). Quốc hiệu Vạn Xuân
bị vùi dập và chỉ được khôi
phục sau khi Ngô Quyền đánh
tan quân Nam Hán bằng chiến
thắng Bạch Đằng năm 938,
chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc.
♦
Đại Cồ Việt - Tồn tại 86 năm
(968-1054)
Năm
968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên
các sứ quân cát cứ, thống
nhất quốc gia, lên ngôi
Hoàng đế và cho đổi quốc
hiệu là Đại Cồ Việt
(nước Việt lớn). Quốc hiệu
này duy tŕ suốt đời Đinh
(968-979), Tiền Lê
(980-1009) và đầu thời Lư
(1010-1053).
♦
Đại Việt
- Tồn tại 748 năm
(1054-1804)
Năm 1054, nhân điềm lành lớn
là việc xuất hiện một ngôi
sao sáng chói nhiều ngày mới
tắt, nhà Lư liền cho đổi tên
nước là Đại Việt
và quốc hiệu Đại Việt được
giữ nguyên đến hết thời Trần…
Sau
10 năm kháng chiến
(1418-1427), cuộc khởi nghĩa
chống Minh của Lê Lợi toàn
thắng. Năm 1428, Lê Lợi lên
ngôi, đặt tên nước là
Đại Việt (lănh
thổ nước ta lúc này về phía
Nam đă tới Huế).
Quốc hiệu Đại Việt được giữ
qua suốt thời Hậu Lê
(1428-1787) và thời Tây Sơn
(1788-1802).
♦
Đại Ngu -
Tồn tại 7 năm (1400-1406)
Tháng 3/1400, Hồ Quư Ly phế
Trần Thiếu Đế, lập ra nhà Hồ
và cho đổi tên nước thành
Đại Ngu ("ngu"
tiếng cổ có nghĩa là "sự yên
vui"). Quốc hiệu đó tồn tại
đến khi giặc Minh đánh bại
triều Hồ (tháng 4/1407).
♦
Việt Nam - Tồn tại 80 năm
(1804-1884)
Năm 1802, Nguyễn Ánh đăng
quang, mở đầu thời Nguyễn và
cho đổi tên nước là
Việt Nam, Quốc hiệu
Việt Nam được công nhận hoàn
toàn về mặt ngoại giao để
trở thành chính thức vào năm
1804. Tuy nhiên, hai tiếng "Việt
Nam" lại thấy xuất hiện từ
khá sớm trong lịch sử nước
ta. Ngay từ cuối thế kỷ 14
đă có một bộ sách nhan đề
Việt Nam thế chí do trạng
nguyên Hồ Tông Thốc biên
soạn. Cuốn Dư địa chí của
Nguyễn Trăi (đầu thế kỷ 15)
nhiều lần nhắc đến hai chữ "Việt
Nam". Điều này c̣n được đề
cập rơ ràng trong những tác
phẩm của trạng Tŕnh Nguyễn
Bỉnh Khiêm (1491-1585),
chẳng hạn ngay trang mở đầu
tập Tŕnh tiên sinh quốc ngữ
đă có câu: "Việt Nam khởi tổ
xây nền". Người ta cũng t́m
thấy hai chữ "Việt Nam" trên
một số tấm bia khắc từ thế
kỷ 16-17 như bia chùa Bảo
Lâm (1558) ở Hải Pḥng, bia
chùa Cam Lộ (1590) ở Hà Tây,
bia chùa Phúc Thành (1664) ở
Bắc Ninh.... Đặc biệt bia
Thuỷ Môn Đ́nh (1670) ở biên
giới Lạng Sơn có câu đầu: "Việt
Nam hầu thiệt, trấn Bắc ải
quan" (đây là cửa ngơ yết
hầu của nước Việt Nam và là
tiền đồn trấn giữ phương Bắc).
Về ư nghĩa, phần lớn các giả
thuyết đều cho rằng từ "Việt
Nam" kiến tạo bởi hai yếu tố:
chủng tộc và địa lư (người
Việt ở phương Nam).
♦
Đại Nam -
Tồn tại trên lư thuyết 107
năm (1838-1945)
Đến
đời vua Minh Mạng
(1820-1840), quốc hiệu được
đổi thành Đại Nam.
Dù vậy, hai tiếng "Việt Nam"
vẫn được sử dụng rộng răi
trong các tác phẩm văn học,
trong nhiều giao dịch dân sự
và quan hệ xă hội.
♦
Việt Nam
Ngày
19/8/1945, Cách mạng Tháng
Tám thành công, lật đổ hoàn
toàn ách thống trị phong
kiến và thực dân, mở ra một
kỷ nguyên mới. Ngày
02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đọc Tuyên ngôn độc lập,
khai sinh nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà.
Suốt 30 năm tiếp theo, tuy
đất nước lâm vào cảnh chiến
tranh, rồi chia cắt, hai
tiếng "Việt nam" vẫn được
phổ biến từ Bắc chí Nam và
trở thành thân thiết, thiêng
liêng với mọi người.
Ngày
30/4/1975, miền Nam được
giải phóng, non sông quy về
một mối. Ngày 02/7/1976,
trong kỳ họp đầu tiên của
Quốc hội nước Việt Nam thống
nhất, toàn thể Quốc hội đă
nhất trí lấy tên nước là
Cộng hoà Xă hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Hiến pháp năm 1980 và hiến
pháp năm 1992 tiếp tục khẳng
định quốc hiệu đó, đưa nó
trở thành chính thức cả về
pháp lư lẫn trên thực tế.