|
|
Triều Ngô Vương (Từ năm 939
- 965) |
|
Ngô Vương (939-944)
Hậu Ngô Vương (950-965)
|
♦
Ngô Quyền phá quân Nam Hán:
Ngô Quyền là bộ tướng của
Dương Đ́nh Nghệ sinh ngày 12
tháng 3 năm Đinh Tỵ (897) ở
Đường Lâm (Ba V́ - Hà Tây).
Cha của Ngô Quyền là Ngô Mâm,
một hào trưởng có tài. Lớn
lên trên quê hương có truyền
thống bất khuất, nơi sinh
sản và nuôi dưỡng người anh
hùng dân tộc Phùng Hưng, Ngô
Quyền sớm tỏ rơ trí khí phi
thường hiếm thấy. Vốn thường
xuyên luyện tập vơ nghệ nên
tiếng tăm Ngô Quyền lan rộng
cả một vùng. Sách Đại Việt
sử kư toàn thư mô tả Ngô
Quyền “vẻ khôi ngô, sức có
thể nhấc vạc, giơ cao”. V́
có tài nên Dương Đ́nh Nghệ
giao cho Ngô Quyền cai quản
đất Ái Châu và gả con gái
cho.
Trong 5 năm (934-938), Ngô
Quyền đă đem lại yên vui cho
đất Ái Châu, tỏ rơ là người
có tài đức. Khi Dương Đ́nh
Nghệ bị Kiều Công Tiễn giết
hại và vua Nam Hán là Lưu
Cung cho con là Vạn Vương
Hoằng Tháo đem quân sang xâm
lược nước ta, Ngô Quyền đă
nhanh chóng tập hợp lực
lượng để trừ nội phản, diệt
ngoại xâm. Từng hâm mộ tài
đức của Ngô Quyền, hào
trưởng từ nhiều nơi đem binh
về với Ngô Quyền. Đầu mùa
đông năm Mậu Tuất (938), Ngô
Quyền đem quân vượt qua đèo
Ba Dội, tiến như vũ băo vào
Đại La, bắt giết tên nội
phản Kiều Công Tiễn, bêu đầu
hắn trước cổng thành. Thù
trong đă diệt xong, Ngô
Quyền rảnh tay đối phó với
giặc ngoài. Đem quân xâm
lược nước ta, chưa biết
thắng bại ra sao, Lưu Cung
đă vội phong cho con tước
Giao Vương (tước vương đất
Giao Chỉ). Lưu Cung c̣n đích
thân đốc quân ra đóng ở trấn
Hải Môn để sẵn sàng chi viện.
Để chống lại giặc mạnh, Ngô
Quyền đưa ra kế hoạch độc
đáo. Ông cho bố trí một trận
địa cọc nhọn bịt sắt cắm
xuống ḷng sông Bặch Đằng
khi nước triều lên ông cho
quân ra khiêu chiến, quân
Nam Hán đuổi theo, thuyền
giặc vào bên trong hàng cọc,
đợi khi thuỷ triều xuống sẽ
dốc toàn sức tiêu diệt địch
bằng một trận quyết chiến
nhanh gọn. Tháng 12 năm Mậu
Tuất (938) các chiến thuyền
của giặc hùng hổ vượt biển
tiến vào sông Bạch Đằng.
Chúng nghênh ngang tràn vào
trận địa mai phục của Ngô
Quyền. Bị đánh bất ngờ nên
chỉ trong một thời gian ngắn
thuyền giặc bị đắm gần hết,
quân giặc bị chết quá nửa,
máu chảy loang đỏ khúc sông,
Hoằng Tháo cũng bị đâm chết
tại trận. Tin thất trận ở
sông Bạch Đằng cùng với tên
Hoằng Tháo bị giết khiến vua
Nam Hán kinh hoàng phải khóc
lên, thu nhặt tàn binh rút
chạy.
Vua Nam Hán trước tên là
Nham sau đổi là Thiệp rồi
sau đó “v́ có rồng trắng
hiện lên” nên đổi là Cung.
Bị thất trận, vua Nam Hán
cho tên Cung là xấu và đă
đổi tên khác là Yểm tức Lưu
Yểm.
Sau chiến thắng, Ngô Quyền
xưng vương, băi chức tiết độ
sứ, đóng đô ở Cổ Loa (Hà Nội).
Để củng cố trật tự chiều
chính, Ngô Quyền đặt ra các
chức quan văn vơ, quy định
nghi lễ trong triều. Đáng
tiếc, thời gian trị v́ của
Ngô Quyền quá ngắn ngủi, chỉ
được 6 năm (939-944) th́ mất,
thọ 47 tuổi.
 |
|
Lăng Ng?yền |
♦
Dương Tam Kha:
Thời trẻ, Ngô Quyền lấy con
gái Dương Đ́nh Nghệ. Khi Ngô
Quyền lên ngôi vua, Dương
Thị được lập làm Vương Hậu.
Khi sắp mất, Ngô Vương uỷ
thác con là Ngô Xương Ngập
cho Dương Tam Kha là em
Dương Hậu. Lợi dụng cháu nhỏ,
Dương Tam Kha cướp ngôi của
cháu tự xưng là B́nh Vương.
Ngô Xương Ngập thấy biến,
chạy trốn vào Nam Sách (Hải
Dương) vào ở ẩn nhà Phạm
Lệnh Công. Dương Tam Kha sai
quân đi đuổi bắt, Phạm Lệnh
Công đem Xương Ngập trốn
trong núi, Dương Tam Kha bắt
em Ngô Xương Ngập là Ngô
Xương Văn làm con nuôi. Năm
Canh Tuất (950) nhân có loạn
ở Sơn Tây, Dương Tam Kha sai
Ngô Xương Văn cùng tướng
Dương Cát Lợi và Đỗ Cảnh
Thạc đem quân đi đánh. Đến
Từ Liêm, Ngô Xương Văn mưu
với 2 tướng đem quân trở về
bắt Dương Tam Kha, Ngô Xương
Văn nghĩ t́nh cậu cháu không
nỡ giết chỉ giáng Tam Kha
xuống làm Chương Dương Công.
♦
Hậu Ngô Vương (950-965):
Ngô Xương Văn gạt bỏ Dương
Tam Kha xưng là Nam Tấn
Vương và sai người tâm phúc
đi đón anh là Ngô Xương Ngập
về cùng trông coi việc nước.
Ngô Xương Ngập xưng là Thiên
Sách Vương. Cả hai anh em
đều làm vua, sử gọi là hậu
Ngô Vương.
Làm vua được ít lâu, Thiên
Sách Vương nghĩ cách trừ Nam
Tấn Vương để một ḿnh làm
vua. Âm mưu đó chưa kịp thi
hành th́ năm Giáp Dần (954)
Thiên Sách Vương mất. Đến
lúc này, th́ lực nhà Ngô
ngày một suy yếu, thổ hào
các nơi xưng là sứ quân ra
sức chống đối buộc Nam Tấn
Vương phải thân chinh đi
đánh dẹp. Năm Ất Sửu (965)
trong một trận giao chiến ở
Thái B́nh (Đường Lâm, Sơn
Tây), Nam Tấn Vương không
may bị giặc bắn chết, làm
vua được 15 năm. Con Thiên
Sách Vương là Ngô Xương Xí
nối nghiệp lên làm vua về
giữ đất B́nh Kiều, Thanh Hoá.
Như vậy, triều Ngô bắt đầu
từ Ngô Quyền, qua Ngô Xương
Ngập, Ngô Xương Văn, đến Ngô
Xương Xí, truyền được 3 đời,
kéo dài 26 năm. Đến Ngô
Xương Xí trong nước có cả
thảy 12 sứ quân, gây ra loạn
lạc nồi da nấu thịt kéo dài
hơn 20 năm, 12 sứ quân đó là:
1. Ngô Xương Xí, giữ
B́nh Kiều (Triệu Sơn
- Thanh Hoá).
2. Đỗ Cảnh Thạc, giữ
Đỗ Động Giang (Thanh
Oai - Hà Tây).
3. Trần Lăm, giữ Bố
Hải Khẩu (Kỳ Bố,
Thái B́nh).
4. Kiều Công Hăn,
giữ Phong Châu (Bạch
Hạc, Phú Thọ).
5. Nguyễn Khoan giữ
Tam Đái (Vĩnh Tường,
Vĩnh Phúc).
6. Ngô Nhật Khánh,
giữ Đường Lâm (Phúc
Thọ, Hà Tây).
|
7. Lư Kê, giữ Siêu
Loại (Thuận Thành,
Bắc Ninh).
8. Nguyễn Thủ Tiệp,
giữ Tiên Du (Bắc
Ninh).
9. Lữ Đường, giữ Tên
Giang (Vân Giang,
Hưng Yên).
10. Nguyễn Siêu, giữ
Tây Phù Liệt (Thanh
Tŕ, Hà Nội).
11. Kiều Thuận, giữ
Hởi Hồ (Cẩm Khê, Phú
Thọ).
12. Phạm Bạch Hổ,
giữ Đằng Châu (Hưng
Yên).
|
Những sứ
quân ấy cứ đánh lẫn nhau,
nhằm bành trướng thế lực
khiến cho nhân dân vô cùng
khổ sở. Về sau Đinh Bộ Lĩnh
ở Hoa Lư dẹp loạn sứ quân,
quy giang sơn về một mối lập
lên cơ nghiệp nhà Đinh.
|
|
Nguồn: TCDL
|