Nam nữ thụ
thụ bất thân,
đây là câu
nói cửa
miệng, quen
dùng chỉ mối
quan hệ nam
nữ theo quan
niệm của nhà
nho. Người
đàn ông và
người đàn bà
ngày xưa
trao cho
nhau cái ǵ,
nhận của
nhau cái ǵ,
đều không
trực tiếp
tận tay, sợ
bấm nháy, ra
hiệu ǵ với
nhau chăng?
Hai người
muốn mời
nhau ăn trầu,
th́ người
chủ tiêm
trầu, đặt
giữa bàn,
khách tự
nhặt lấy mà
ăn. Lễ giáo
phong kiến
thật khắt
khe, việc tỏ
t́nh trực
tiếp khó mà
thực hiện
được, họa
chăng chỉ có
đôi mắt là
thầm lén
nh́n nhau!
V́ vậy các
nhà quyền
quư thường "cấm
cung" con
gái. Ngay từ
tuổi thơ đă
sớm h́nh
thành sự
ngăn cách
giới tính.
Trong xă hội
phong kiến
xưa "Nam nữ
thụ thụ bất
thân" nên
hôn nhân cần
phải có môi
giới. Nếu
yêu nhau,
cưới hỏi
không cần
mối lái sẽ
bị chê trách.
Trong xă hội
cũ, có những
người chuyên
làm nghề mối
lái, nếu đẹp
đôi vừa lứa
th́ trở
thành ân
nhân suốt
đời. Ở xă
hội mới,
ngày nay vẫn
c̣n có các
bà mối, các
bà mối thời
nay là người
cố vấn,
người đỡ đầu
cho đôi trẻ
xây dựng
hạnh phúc
lâu dài. Các
bà mối chính
là phương
tiện thông
tin đại
chúng, câu
lạc bộ người
độc thân,
các công ty
dịch vụ...
Một số tục
lệ trong
cưới hỏi
*
Lễ vấn danh
có ư nghĩa
ǵ ?
Là lễ nhà
trai đến nhà
gái hỏi tên
tuổi cô gái,
ngày nay gọi
là lễ "chạm
ngơ" hay là
lễ "dạm".
Trong hôn
nhân xưa chỉ
chú trọng có
môn đăng hộ
đối hay
không, có
hợp tuổi
không, gia
đ́nh nào
thận trọng
mới t́m hiểu
"công, dung,
ngôn, hạnh".
Chẳng những
các chàng
trai, trước
khi cưới
nhiều chàng
chưa biết
mặt vợ, mà
cả những ông
bố chồng là
người chủ
động đi hỏi
dâu cũng
không biết
mặt con dâu.
*
Tục thách
cưới
Thách cưới
là một lệ
tục lạc hậu,
trói buộc cả
nhà trai lẫn
nhà gái, có
khi làm cho
chàng rể
phải bỏ cuộc
mà nỗi thiệt
tḥi lại rơi
vào thân
phận người
con gái, dẫu
sao cũng
mang tiếng
một đời
chồng, dẫu
sao cũng làm
cho những
chàng trai
khác phải
ngại xui nên
thân phận
hẩm hiu.
Đáng lẽ nên
vợ nên chồng,
thành gia
thành thất,
là mừng cho
cả hai gia
đ́nh nhưng
gặp phải ông
bác bà cô
bên nhà gái
khó tính,
thách cưới
nào là quần
áo, nón dép,
nào nhẫn
xuyến, hoa
tai, tiền
mặt, cỗ cưới...
nên nhà trai
phải bỏ cuộc
hoặc phải
chạy ngược
chạy xuôi,
lo xong việc
rồi kéo cày
trả nợ, song
ngay từ buổi
thành hôn,
nghĩa vợ
chồng, t́nh
thông gia đă
bị sứt mẻ,
đó là mầm
mống gây
nhiều bất
trắc về sau.
Cũng có
trường hợp
nhà gái túng
thiếu không
thể tự lực
cung cấp cho
đủ lệ làng,
đ̣i hỏi nhà
trai phải lo
chu toàn.
Cũng có
trường hợp
bố mẹ cô dâu
c̣n phải
xuất ra gấp
năm gấp mười
lần, và sau
khi thành
thân, c̣n
cho con gái,
con rể nhiều
thứ, nhưng
cũng thách
cưới cao để
tránh tiếng
x́ xào, đàm
tiếu rằng
con gái ḿnh
dở duyên rồi,
nên phải cho
không.
Hay các gia
đ́nh có học
th́ lại
không thách
tiền, thách
của mà thách
chữ nghĩa
văn chương
chọn rể con
nhà gia thế,
với hy vọng
tương lai
con gái ḿnh
c̣n được "vơng
anh đi trước,
vơng nàng
theo sau".
*
Tiền "cheo"
Tiền "cheo"
là khoản
tiền nhà
trai nạp cho
làng xă bên
nhà gái.
Trai gái
cùng làng xă
lấy nhau
cũng phải
nộp cheo
nhưng có
giảm bớt.
Xuất xứ của
lệ "nạp
cheo" là tục
"lan nhai"
tức là tục
chăng dây ở
dọc đường
hoặc ở cổng
làng. Đầu
tiên th́
người ta tổ
chức đón
mừng hôn lễ,
người ta
chúc tụng.
Để đáp lễ,
đoàn đưa dâu
cũng đưa
trầu cau ra
mời, đưa
quà, đưa
tiền biếu
tặng. Dần
dần có nhiều
người lợi
dụng ṿi
tiền, sách
nhiễu, trở
thành lệ tục
xấu, triều
đ́nh ra lệnh
băi bỏ. Thay
thế vào đó,
cho phép
làng xă được
thu tiền
cheo. Khi đă
nộp cheo cho
làng, tức là
đám cưới
được công
nhận có giấy
biên nhận
hẳn hoi.
Ngày xưa,
chưa có thủ
tục đăng kư
kết hôn, th́
tờ nạp cheo
coi như tờ
hôn thú.
Khoản tiền
cheo này
nhiều địa
phương dùng
cho việc
công ích như
đào giếng,
đắp đường,
lát gạch,
xây cổng
làng... Đă
hơn nửa thế
kư, lệ làng
này bị băi
bỏ rồi.
*
Thủ tục
trước khi cô
dâu về nhà
chồng
Khi nhà trai
bắt đầu đến
đón dâu cùng
với chú rể
đến trước
bàn thờ xin
tổ tiên chấp
nhận kể từ
nay nên vợ
nên chồng,
phù hộ cho
trăm năm
duyên ưa
phận đẹp,
cầm sắt giao
hoà. Lễ xong,
hai người đi
mời chào
thân nhân,
khách khứa,
trước hết là
những người
bề trên, cao
tuổi, khách
trước, người
nhà sau.
Trong khi
chào mời, cô
dâu phải
giới thiệu
cho chàng rể
biết mối
quan hệ để
biết cách
xưng hô.
Sau cùng,
trước khi
bước ra cửa
để về nhà
chồng là lễ
tạ cha mẹ.
Cha mẹ ngồi
sẵn một phía
ở cửa chính,
nếu ông bà
nội ngoại
c̣n thượng
tại có đến
dự th́ ông
bà cũng ngồi
chung một
phía, nhưng
ở phía cao
hơn. Thời
xưa đôi tân
hôn phải lạy
hai lạy,
ngày nay
châm chước,
cúi đầu cung
kính xin
phép ông bà,
cha mẹ. Lúc
đó, cha mẹ
ban phát cho
con gái, con
rể một vật
ǵ đó làm kỷ
niệm.
*
Ư nghĩa của
lễ xin dâu
và thủ tục
Lễ này rất
đơn giản,
trước giờ
đón dâu, nhà
trai cử một
hai người,
thường là
bác, bà cô,
bà chị của
chú rể đưa
một cơi trầu,
một be rượu
đến xin dâu,
báo trước
giờ đoàn đón
dâu sẽ đến,
để nhà gái
sẵn sàng đón
tiếp. Phong
tục này có
nhiều ư
nghĩa hay:
mặc dù hai
gia đ́nh đă
quy ước với
nhau từ
trước về
ngày giờ và
thành phần
đón dâu,
song để đề
pḥng mọi
bất trắc nên
mới định ra
lễ này để
cẩn trọng
trong hôn lễ.
Thời gian
này chú rể
và bố mẹ chú
rể rất bận
rộn nên
không thể
sang nhà gái,
nên uỷ thác
cho người
đại diện
sang báo như
bộ phận "tiền
trạm".
Trong trường
hợp hai gia
đ́nh cách
nhau quá xa
hoặc quá
gần, hai gia
đ́nh có thể
thoả thuận
để miễn lễ
nay, hoặc
nhập lễ xin
dâu và lễ
đón dâu vào
làm một.
Cách nhập lễ
xin dâu và
đón dâu tiến
hành như
sau:
Khi đoàn vào
đón dâu đến
ngơ nhà gái,
đoàn chỉnh
đốn lại y
trang, sắp
xếp lại thứ
tự đi trước
đi sau,
trong khi đó
một cụ già
đi đầu cùng
một người
đội lễ (mâm
quả trong
đựng trầu
cau, rượu)
vào trước,
đặt lên bàn
thờ, thắp
hương vái
rồi trở ra
dẫn đoàn vào
chính thức
làm lễ đón
dâu. Lễ này
phải tiến
hành rất
nhanh. Thông
thường nhà
gái vái chào
xong, chủ
động xin
miễn lễ rồi
một vị huynh
trưởng cũng
ra luôn để
đón đoàn nhà
trai vào.
* Mẹ chồng
làm ǵ khi
con dâu bắt
đầu về nhà?
Phong tục ở
mỗi địa
phương một
khác, trái
ngược nhau
nhưng đều có
ư nghĩa hay.
Ví dụ như:
ngày xưa ở
nhiều địa
phương Nghệ
An, Hà Tĩnh
có lệ tục mẹ
chồng ra cất
nón cho con
dâu. Nhà
trai đặt sẵn
trước ngơ
một nồi
đồng, một
cái gáo,
trong nồi
đặt sẵn một
quan tiền
đồng và đựng
đầy nước
trong. Cô
dâu vào đến
cổng dùng
gáo múc nước
rửa mặt mũi
chân tay, mẹ
chồng bước
ra cất nón
cho con
dâu...
Sự
tích tơ hồng
Tơ hồng
Nguyệt lăo
thiên tiên
dựa theo
tích Vi Cố
gặp ông lăo
trong một
đêm trăng,
ngồi kiểm
soát hướng
về phía mặt
trăng, sau
lưng có túi
đựng dây đỏ.
Ông lăo bảo
đó là văn
thư đựng hôn
ước của
thiên hạ,
c̣n những
sợi dây đỏ
để buộc chân
những đôi
trai gái sẽ
thành vợ
thành chồng.
Một hôm, Vi
Cố vào chợ
gặp một bà
lăo chột mắt
bế một đứa
bé gái, ông
lăo hiện ra
bảo cho biết
đứa bé gái
kia sẽ là vợ
anh, Vi Cố
giận, sai
đầy tớ t́m
giết đứa bé
ấy đi. Người
đầy tớ đâm
đứa bé giữa
đám đông rồi
bỏ trốn.
Muời bốn năm
sau, quan
Thứ Sử
Trương Châu
là Vương
Thái gả con
gái cho Vi
Cố. Người
con gái dung
sắc tươi
đẹp, giữa
lông mày có
dính trang
điểm một
bông mai
vàng. Vương
Cố gạn hỏi,
vợ mới thưa:
thuở c̣n bé,
bà vú bế vào
chợ bị một
đứa cuồng
tặc đâm. Vi
Cố hỏi lại:
có phải bà
vú bị chột
mắt không?
Người vợ
bảo: đúng
thế. Vi Cố
kể lại việc
trước, hai
vợ chồng
càng quư
trọng nhau
cho là duyên
trời đă định
sẵn. |