|
|
Cải lương |
|
Cải lương là
loại h́nh
sân khấu
kịch hát dân
tộc ra đời
vào đầu thế
kỷ 20. Nguồn
gốc của Cải
lương là
những bài
hát lư, ca
nhạc tài tử
ở miền Tây
Nam Bộ. Từ
những h́nh
thức ca nhạc
thính pḥng,
tiến tới các
diễn xướng,
vừa hát, vừa
biểu diễn
bằng động
tác để minh
hoạ, gọi là
ca ra bộ. Ca
ra bộ là cây
cầu nối giữa
đàn hát
thính pḥng
và sân khấu
hát kịch cải
lương sau
này.
|
|
Khi mới ra
đời, Cải
lương gắn
với những
người dân
Nam Bộ. Do
đặc điểm
phát âm ngọt
ngào nên
giọng Nam Bộ
ca cải lương
rất "mùi mẫn".
Dần dần cải
lương phát
triển rộng
ra cả nước.
Cũng như các
nghệ thuật
kịch hát dân
tộc khác,
cải lương
bao gồm múa,
hát, âm nhạc
(không kể
kịch bản
tích tṛ).
Dàn nhạc cải
lương không
dùng bộ gơ
như Tuồng,
Chèo mà đàn
ghi ta phím
lơm và đàn
nguyệt là
hai nhạc cụ
chủ đạo.
Mặc dù sinh
sau nhưng
sân khấu cải
lương nhanh
chóng tạo
cho ḿnh
khối lượng
kịch mục
phong phú.
Nhiều vở
diễn được
các tác giả
cho ra đời
đă nhanh
chóng được
công chúng
đón nhận:
Lục Vân
Tiên, Lưu
B́nh - Dương
Lễ, sau này
chuyển từ đề
tài lịch sử,
xă hội mở ra
các vở diễn
chuyển thể
từ tiểu
thuyết lăng
mạn đương
thời có
nhiều t́nh
tiết ly kỳ,
hoặc các lớp
"Nhảy cửa sổ
đấu dao
găm"...
Sân khấu cải
lương h́nh
thành, đáp
ứng thị hiếu
của công
chúng đô thị
và ngày càng
phát triển
mạnh mẽ. Mặc
dù c̣n trẻ
tuổi nhưng
nghệ thuật
cải lương có
một sức sống
kỳ diệu
nhiều khi
muốn lấn át
cả hai loại
h́nh kịch
hát dân tộc
đàn anh.
Trong tiến
tŕnh hoàn
thiện và
pháp triển,
cải lương đă
trải qua
những thể
nghiệm đổi
mới về âm
nhạc và một
bộ môn sân
khấu được
công chúng
mến mộ.
|
|
Nguồn: TCDL |