|
Xưa kia
phường chèo
do một ông
trùm
cầm đầu đi
diễn ở các
thôn, xã.
Mỗi phường
chèo chỉ
khoảng mươi
mười lăm
người kể cả
nhạc công mà
bộ gõ chiếm
vị trí quan
trọng. Người
đóng trò gồm
đào, kép,
lão, mụ, hề.
Có khi chỉ
cần một
đào,
một kép,
một hề xuất
sắc là nổi
đình nổi đám.
Tính chất
ước lệ của
sân khấu
chèo không
chỉ thể hiện
ở diễn xuất
mà cả về
trang trí.
Chẳng có
phông màn
chỉ có một
tấm vải
nhuộm màu
ngăn đôi
buồng trò và
sàn diễn.
Hai chiếc
chiếu trải ở
giữa, khán
giả ngồi vây
ba mặt, đó
là sân khấu
chèo ở sân
đình. Buổi
diễn thường
mở đầu bằng
điệu hát vỡ
nước, một
hồi trống
dung lên,
một người ra
giáo đầu,
buổi diễn
kết thúc có
hát vãn
trò và
trống dã
đám.
Chèo thuộc
loại sân
khấu tự sự (kể
chuyện).
Giữa người
xem và người
diễn có sự
giao lưu
khăng khít.
Người xem dễ
theo dõi.
Cũng như sân
khấu tuồng,
ở đây trống
chầu giữ vai
trò đặc biệt.
Trống chầu
do một người
có vai vế,
uy tín hoặc
tay sành sỏi
điều khiển,
để cầm
trịch
buổi diễn,
để tỏ ý
thưởng phạt,
giám định
diễn xuất
của đào,
kép.
Nghệ thuật
chèo bao gồm
múa, hát, âm
nhạc và văn
học trong
tích trò.
Văn chèo đậm
màu sắc trữ
tình của ca
dao, tục
ngữ, tràn
đầy tính lạc
quan trong
những cái
cười dân dã,
thông minh,
hóm hỉnh và
không kém
phần trí
tuệ. Tính
nhân văn
trong các vở
chèo rất rõ
nét. Quyền
con người,
thiện thắng
ác luôn được
đề cập, được
khẳng định.
Các vở chèo
cổ bao giờ
cũng kết
thúc có hậu
theo truyền
thống phương
Ðông. Nhiều
vở được xếp
vào vốn quý
của sân khấu
cổ truyền
dân tộc.
Từ khi ra
đời đến nay,
tiếng trống
chèo vẫn có
ma lực cuốn
hút bao thế
hệ khán giả,
không kể
tuổi tác,
địa vị xã
hội hay hay
quốc tịch.
Nhưng có
giai đoạn
sân khấu
chèo đã trải
qua những
khó khăn
tưởng chừng
không đứng
vững nổi.
Giờ đây, sân
khấu chèo
đang được
khôi phục
nhằm giữ gìn
và bảo tồn
một loại
hình nghệ
thuật đậm đà
bản sắc dân
tộc. |