|
Cồng chiêng
có thể được
dùng đơn lẻ
hoặc dùng
theo dàn, bộ
từ 2 đến 12
hoặc 13
chiếc, thậm
chí có nơi
từ 18 đến 20
chiếc.
Ở người
Mường và
nhiều tộc
dọc Trường
Sơn - Tây
Nguyên, các
dàn cồng
chiêng không
chỉ làm
nhiệm vụ
điểm nhịp,
đi tiết tấu
hoặc giai
điệu một bè
mà c̣n hoà
tấu nhạc đa
âm. Các dàn
cồng chiêng
của họ
thường gồm
nhiều bộ.
Mỗi bộ có số
lượng khác
nhau và đảm
nhiệm những
chức năng
riêng trong
cuộc hoà tấu.
Cồng chiêng
có thể được
gơ bằng dùi,
đấm bằng tay.
Có tộc c̣n
áp dụng kỹ
thuật chặn
tiếng bằng
tay trái
hoặc tạo
giai điệu
trên một
chiếc chiêng.
Ở nhiều tộc
chỉ nam giới
mới được
đánh cồng
chiêng. Dàn
cồng sắc bùa
của người
Mường lại do
nữ giới diễn
tấu. Ở một
số tộc khác
nam và nữ
đều có thể
đánh cồng
chiêng. Các
kiêng kỵ
trong cách
sử dụng cồng
chiêng cũng
khác biệt ở
mỗi tộc.
Với tộc
Mường và
nhiều tộc ở
Tây Nguyên
cồng chiêng
có một ư
nghĩa lớn và
giá trị cao.
Hầu như gia
đ́nh nào
cũng đều có
cồng chiêng,
thậm chí có
gia đ́nh có
tới vài bộ.
Cồng chiêng
gắn bó với
người Tây
Nguyên từ
thuở ấu thơ.
Chúng theo
sát cộng
đồng và từng
thành viên
của cộng
đồng trong
mọi sự kiện
trọng đại,
lúc vui cũng
như lúc buồn.
Nh́n chung,
cồng chiêng
là loại nhạc
cụ thiêng,
chủ yếu dùng
cho các nghi
lễ cúng tế,
tang ma,
cưới xin,
mừng năm
mới, mừng
nhà mới,
mừng lúa mới
và các nghi
lễ nông
nghiệp, mừng
chiến thắng,
đưa và đón
các chiến
binh, cầu
sức khoẻ và
may mắn...
Ở Trường Sơn
- Tây Nguyên
âm thanh của
chúng c̣n là
chất men lôi
cuốn gái
trai vào
những điệu
múa hào hứng
của cả cộng
đồng trong
những ngày
hội của làng
buôn. Đó là
một bộ phận
không thiếu
trong đời
sống tinh
thần của
nhiều tộc
trên đất
nước Việt
Nam từ thuở
xa xưa cho
tới nay. |