|
|
Đàn Tam Thập Lục |
|
Là nhạc khí dây,
chi gơ của dân
tộc Việt. Đàn có
36 dây nên được
gọi là Tam Thập
Lục.
|
|
Đàn Tam Thập Lục
h́nh thang cân,
mặt đàn hơi
phồng lên ở giữa,
làm bằng gỗ nhẹ,
xốp, để mộc. Cầu
đàn, thành đàn
làm bằng gỗ cứng,
trên mặt đàn đặt
so le hai hàng
ngựa, mỗi hàng
18 ngựa. Cần đàn
bên trái có 36
móc để mắc dây,
bên phải có 36
trục để lên dây.
Dây đàn làm bằng
kim khí. Que đàn
được làm bằng
hai thanh tre
mỏng, dẻo, ở đầu
được quấn dạ để
tiếng đàn được
êm. Âm thanh đàn
Tam Thập Lục
trong sáng,
thánh thót, rộn
ră.
Âm vực đàn Tam
Thập Lục tương
đối rộng. Từ âm
trầm nhất đến âm
cao nhất trên
hai quăng 8,
được mắc theo
gam nguyên.
- Khoảng âm
dưới: Tiếng đàn
ấm áp, khá vang.
- Khoảng âm
giữa: Tiếng đàn
đầy đặn, trong.
- Khoảng âm cao
nhất: Tiếng đàn
sắc, gọn.
Khi biểu diễn
nhạc công dùng 2
que gơ vào mặt
đàn tạo ra các
ngón như: Ngón
rung, ngón vê,
ngón bịt, ngón
á, đánh cồng âm,
hợp âm...
Đàn Tam Thập Lục
giữ vai tṛ quan
trọng trong các
dàn nhạc sân
khấu chèo, cải
lương. Đàn đệm
cho hát, độc
tấu, tham gia
dàn nhạc dân tộc
tổng hợp.
Nguồn: Viện Âm
Nhạc Việt Nam
http://www.vnstyle.vdc.com.vn |
|
Nguồn: TCDL |