|
|
Điêu khắc cổ
Việt Nam |
|
Trong di sản
nghệ thuật
truyền thống,
điêu khắc có
một lịch sử
phát triển
liên tục và
cô đúc hình
ảnh con
người Việt
Nam từng
miền, từng
thời, dù
dưới dạng
thần linh
hay con
người thế
tục.
|
Dưới bầu
trời rạng rỡ
của hai nền
văn hoá Ấn
Độ và Trung
Hoa lân cận,
đôi khi
người ta
quên mất di
sản này, và
nếu có biết
thì coi như
những ảnh
hưởng phái
sinh của
tinh thần Ấn
Độ - Trung
Hoa, và
không có gì
đồ sộ so
ngay với cả
người láng
giềng Khmer.
Tính chất
cát cứ từng
xuất hiện
trong lịch
sử của một
đất nước
hình thành
lâu dài, sự
đa dân tộc,
bên cạnh
khối dân tộc
Việt chiếm
đại đa số
khiến cho
hình ảnh của
nền điêu
khắc rất đa
dạng có thể
thấy các bộ
phận điêu
khắc như sau:
1. Điêu khắc
vương quốc
Phù Nam và
Chân Lạp ở
Nam Bộ;
2. Điêu khắc
Champa ở
Trung Nam Bộ;
3. Điêu khắc
Đại Việt ở
Bắc Bộ;
4. Điêu khắc
nhà mồ của
thổ dân Tây
Nguyên.
Những ảnh
hưởng của Ấn
Độ giáo chủ
yếu ở Trung
và Nam Bộ,
không vượt
quá đèo
ngang và chi
phối sâu sắc
hệ thần
trong
điêu khắc
Phù Nam và
Champa.
Những ảnh
hưởng của
tam giáo Nho,
Lão và Phật
giáo Đại
thừa theo
dòng Trung
Hoa ít tới
miền Nam.
Tuy vậy,
giao lưu
ngôn ngữ
nghệ thuật
vẫn diễn ra,
ít nhất thấy
rõ trong
thời kỳ Lý -
Trần với sự
cộng tác của
các nghệ
nhân Champa.
Đời sống
đóng kín của
nông thôn
Bắc Bộ đã di
dưỡng một
tinh thần
nghệ thuật
nhân văn -
tôn giáo đặc
sắc mà vẻ
đẹp của điêu
khắc thể
hiện ở tính
chân dung
nông dân của
nó. Dù khói
lửa chiến
tranh liên
miên, mỗi
làng vẫn bảo
tồn một cụm
đình - đền -
chùa với
nhiều tượng
Phật và các
phù điêu.
Điêu
khắc thời
Tiền sử:
Thời Tiền sử
Việt Nam
được tính từ
nền văn hoá
Núi Đọ cách
đây ba mươi
vạn năm đến
nền văn hoá
Đông Sơn
cách đây
2.500 năm.
Thời kỳ này
chắc hẳn mọi
hoạt động
văn hoá chưa
phân chia rõ
ràng, huống
hồ là nghệ
thuật. Không
thể có một
nền điêu
khắc tiền sử,
mà chỉ có
những biểu
hiện có tính
điêu khắc mà
thôi. Đáng
kể nhất là
những hình
khắc trên
hang Đồng
Nội (Lạc
Thuỷ, Hoà
Bình) cách
đây 10.000
năm, khắc ba
mặt người và
một mặt thú
một cách sơ
lược, trên
đầu có cắm
sừng hay
lông chim.
Người Hoà
Bình đã nhìn
thấy gương
mặt mình dù
chưa rõ ràng
nhưng đã
khôn ngoan
đội lốt thú
khi săn bắn
một cách
khái quát.
Tượng gốm và
đá nhỏ vài
cm xuất hiện
trong các di
chỉ Phùng
Nguyên, Đồng
Đậu, Gò Mun
chỉ như
những hình
thể trang
trí gắn với
các trang
sức và công
cụ lao động.
Đến nền văn
hoá Đông Sơn
nổi tiếng về
các trống
đồng, điêu
khắc nhỏ gắn
với đồ tế
khí, gia
dụng đẹp một
cách tinh tế
trong thẩm
mỹ mang tính
bạo lực. Đó
là các tượng
người biến
hình thành
cán dao găm,
các tượng
voi, cóc,
hươu, rùa
trên trống,
thạp, ấm
bằng đồng.
Đặc biệt là
bốn cặp
tượng nam nữ
giao phối
trên nắp
thạp đồng
Đào Thịnh
với một nhãn
quan phồn
thực. Thờ
thần mặt
trời, tế lễ
cầu mùa hay
tang ma là
âm hưởng chủ
đạo qua các
hình khắc
trống đồng
Đông Sơn,
còn điêu
khắc đóng
vai trò nhấn
mạnh tính
hình khối rõ
ràng của
nhạc khí, tế
khí và đồ
dùng. Điêu
khắc Tiền Sử
hoàn toàn
thuần Việt
trước khi
các cuộc xâm
lăng từ
phương Bắc
tràn xuống.
Điêu
khắc nhà mồ
Tây Nguyên:
Năm
tỉnh Gia
Lai, Kon Tum,
Đắk Lắk, Đăk
Nông, Lâm
Đồng chiếm
trọn cao
nguyên phía
tây Nam
Trung Bộ,
nếu tính cao
nguyên như
là sự lan
rộng của dẫy
núi thì địa
bàn Tây
Nguyên còn
rộng hơn.
Nơi đây
không rõ lý
do gì bảo
lưu một nền
văn hoá rực
rỡ của các
dân tộc có
nguồn gốc từ
thổ dân Đông
Nam Á và Đa
Đảo. Hệ ngữ
Môn - Khmer
và Malayo -
Polinesia
đóng vai trò
chính trong
ngôn ngữ Tây
Nguyên cũng
như tập tục
tang ma
trọng thể
thấy phổ
biến ở dân
hoang đảo
quanh xích
đạo địa cầu.
Tiêu biểu là
lễ bỏ mả và
làm nhà mồ
của người
Gia Rai và
Ba Na. Trong
đó, phần tạc
tượng rào
quanh nhà mồ
rất quan
trọng. Những
tượng nam -
nữ giao hợp,
tượng bà
chửa, tượng
người ngồi
khóc, tượng
thú vật voi
và chim cũng
được đẽo
phạt từ tâm
linh sâu
thẳm đối với
thế giới bên
kia, nơi mà
các linh hồn
sẽ trở về
với tổ tiên
và ông bà.
Con thuyền
tang lễ được
gắn vào nóc
nhà mồ. Cột
Klao, cột
Kút dẫn linh
hồn về trời
được dựng
lên trong
tiếng nhạc
cồng, chiêng
trầm hùng và
ai oán.
Điêu
khắc Champa:
Vương quốc
Champa hình
thành ở Nam
Trung Bộ,
chia thành
một số khu
vực tự nhiên
ứng với các
dải đồng
bằng ven
biển là
Amaravati (Quảng
Nam), Vijaya
(Bình Định),
Kauthara (Nha
Trang) và
Paduranaga (Phan
Rang). Sự
liên kết
giữa hai thị
tộc Can và
Dừa dẫn đến
một Nhà nước
phong kiến
theo Ấn Độ
giáo đầy mâu
thuẫn và
hiếu chiến.
Người Champa
ẩn chứa
trong mình
năng lực
sáng tạo dồi
dào, cũng
mạnh mẽ như
khát vọng
chiến tranh
của họ. Từ
thế kỷ 2 là
thời sơ khai
của vương
quốc mà
người Trung
Hoa gọi là
Lâm Ấp.
Nhưng phải
đợi đến thế
kỷ 7 - 8
nghệ thuật
kiến trúc và
điêu khắc
Champa mới
trở nên rực
rỡ cùng
phong trào
Phật giáo
hoá và Ấn Độ
giáo lan
rộng khắp
Đông Nam Á.
Tháp Champa
xây bằng
gạch không
vữa, thường
có một cổng,
một tháp phụ
có mái hình
con thuyền,
một tháp
chính ở
trung tâm
khối vuốt
lên cao nở
ra ở nhiều
góc và các
múi vòm.
Trên đó
thường gắn
các phù điêu
chạm khắc
hình thần
Siva hay các
tiên nữ
Apsara. Cửa
chính quay
về phía Nam
hoặc Đông
Nam. Trong
lòng tháp
đặt biểu
tượng thờ
Linga và
Yoni (dương
vật và âm
vật). Điêu
khắc tượng
tròn được bố
trí hài hoà
với xung
quanh kiến
trúc và tuỳ
theo chức
năng tháp mà
đục đẽo các
tượng thần.
Người ta
thường chia
nghệ thuật
Champa làm
sáu giai
đoạn chính:
1. Mỹ Sơn E1
(nửa đầu thế
kỷ 8); 2.
Hoà Lai (nửa
đầu thế kỷ
9); 3. Đồng
Dương (cuối
thế kỷ 9);
4. Trà Kiệu
(cuối thế kỷ
9 đầu thế kỷ
10); 5. Tháp
Mẫm (thế kỷ
12 - 13); 6.
Poklaung
Gialai (cuối
thế kỷ 13,
14 đến 16).
Năm 1470 Lê
Thánh Tông
dứt điểm
bình định
phương Nam,
sau đó là
công cuộc
Nam tiến của
các Chúa
Nguyễn, nền
nghệ thuật
Champa và
Phù Nam -
Chân Lạp chỉ
còn lại các
di sản đặc
sắc với một
quá khứ huy
hoàng.
Điêu
khắc thời Lý
(1010 -
1225):
Đại Việt
trở thành
quốc gia độc
lập, hùng
cường sau
khi Lý Công
Uẩn lên ngôi
và dời đô từ
Hoa Lư về
Thăng Long.
Phật giáo
trở thành
quốc đạo
phát triển
tới mức, như
sử gia Lê
Văn Hưu nói:
"nhân dân
quá nửa là
sư sãi,
trong nước
chỗ nào cũng
có chùa
chiền". Các
trung tâm
Phật giáo ở
Quảng Ninh,
Hà Nam Ninh
và đặc biệt
ở Bắc Ninh,
quê hương
Nhà Lý được
xây dựng đồ
sộ theo kiểu
thức kiến
trúc Đông
Nam Á, kéo
theo một nền
điêu khắc
Phật giáo.
Các chùa
thời Lý
thường có 4
cấp, ăn sâu
và cao dần
theo triền
núi, hoặc có
mặt bằng
hình vuông,
hình tròn,
trung tâm là
tháp cao có
tượng Phật
đặt trong.
Tượng A Di
Đà chùa Phật
Tích làm năm
1057 là tác
phẩm đầu
tiên của thế
giới Phật
giáo vĩnh
hằng ở Bắc
Bộ. Các
tượng Kim
Cương chùa
Long Đọi,
tượng đầu
người mình
chim, chạm
khắc chùa Bà
Tấm, chùa
Chương Sơn
đều thống
nhất một
tinh thần
viên mãn, cá
tính bị tan
biến sau lớp
đăng ten
trang trí
hoa văn dầy
đặc trên bề
mặt. Cột
biểu chùa
Dạm (1086)
vay mượn từ
biểu tượng
Linga - Yoni
Champa, là
tác phẩm đồ
sộ cao 5,4m
có tính
hoành tráng.
Tinh thần
Thiền
Nhà Lý đã
chi phối
tính ôn hoà
và mạnh mẽ
bên trong
của các tác
phẩm điêu
khắc vừa
khái quát về
tổng thể, kỹ
lưỡng về chi
tiết ở các
công trình
kiến trúc kỳ
vỹ mà từ đó
các bậc
Thiền sư có
thể "Hú lên
một tiếng
lạnh cả trời"
(Đạo Hạnh).
Điêu
khắc thời
Trần (1225 -
1400):
Nhà Trần
thay thế nhà
Lý suy tàn
trong sự
phát triển
đi lên của
phong kiến
Việt Nam. Ba
lần chống
quân Ngyên -
Mông thắng
lợi, bảo tồn
giang sơn đã
tạo nên một
hào khí oai
hùng cho dân
tộc và thấm
đẫm trong
văn học nghệ
thuật; mặt
khác chiến
tranh nhiều
lần tàn phá
đất nước,
hoạt động
nghệ thuật
bị hạn chế,
cuối cùng
chế độ điền
trang thái
ấp cũng tan
vỡ trong
cuộc cải
cách của Hồ
Quý Ly vào
cuối thế kỷ
14. Dù chùa
chiền không
được đồ sộ
nhưng đạo
Phật vẫn
thịnh hành.
Điêu khắc
Phật giáo
hiện chưa
tìm được pho
tượng nào
nhưng còn
lại rất
nhiều bệ
tượng đá hoa
sen hình hộp
trên đặt
tượng Tam
Thế (Quá khứ
- Hiện tại -
Vị lai) ở
các chùa
Thầy, chùa
Bối Khê,
chùa Dương
Liễu. Chạm
khắc gỗ
trang trí
kiến trúc
thấy ở chùa
Phổ Minh
(Nam Định),
chùa Thái
Lạc (Hưng
Yên) với các
đề tài "Rồng
chầu lá đề",
"Tiên nữ
dâng hoa", "Tiên
nữ tấu nhạc",
"Tiên nữ
dâng hương".
Phong cách
hài hoà Lý
đã biến đổi,
phong cách
Trần mạnh mẽ,
khái quát và
quan tâm đến
tính biến
động của cấu
trúc tổng
thể hơn là
hình mô tả.
Trong các
lăng mộ đời
Trần, điêu
khắc đá chủ
yếu là tượng
người, tượng
thú chầu và
làm thần
canh giữ cho
thế giới
vĩnh viễn
của ông vua
có vẻ đẹp
trầm mặc và
sinh động.
Tượng hổ ở
lăng Trần
Thủ Độ,
tượng trâu
và chó ở
lăng Trần
Hiển Tông,
tượng quan
hầu ở lăng
Trần Anh
Tông là lối
điêu khắc
lăng mộ đầu
tiên ở Việt
Nam, mà cách
tạo hình
luôn gắn với
sự xác định
trong không
gian quần
thể kiến
trúc lộ
thiên.
Điêu
khắc thời Lê
Sơ (1428 -
1527):
Trong
trăm năm của
triều đại Lê
Sơ, Phật
giáo đã bị
đẩy lùi về
các làng xã,
Nho giáo lên
ngôi và kinh
tế nông
nghiệp với
quan hệ địa
chủ - nông
dân cũng
phát đạt.
Ngoài ba pho
tượng đá
chùa Ngọc
Khám (Bắc
Ninh) đến
nay hình ảnh
điêu khắc
Phật giáo
thời Lê Sơ
rất mờ nhạt.
Thay vào đó
là nền điêu
khắc lăng mộ
của các vua
Lê ở Lam Sơn
(Thanh Hoá).
Tám lăng vua
Lê và hai bà
Hoàng hậu
đều theo
hình thức
của lăng vua
Lê Thái Tổ
làm năm
1433, mặt
bằng hình
vuông, chính
giữa là
đường thần
đạo dẫn đến
mộ phần ở
đáy lăng,
hai bên có
hai dãy
tượng chầu
gồm quan
hầu, lân, tê
giác, ngựa,
hổ. Bên
ngoài lăng
là nhà bia.
Các lăng
khác đều
tương tự,
tuy các con
vật chầu có
chút ít thay
đổi. Sau 20
năm chiến
tranh với
nhà Minh
(1407 -
1427), đất
nước trở nên
hoang tàn,
sản vật bị
vơ vét, sách
vở bị đốt,
đền chùa bị
phá, thợ
giỏi bị đưa
về Tàu. Vua
Lê đành phải
dùng những
nông dân lân
cận tạc
tượng, xây
lăng. Tính
thô mộc,
giản dị, sự
cần kiệm của
một chính
thể mới lên
đã dẫn đến
một nền điêu
khắc đơn
điệu, nghèo
nàn, dù con
mắt kiến
trúc tổng
thể khá đặc
sắc.
Điêu khắc
thời Lê -
Trịnh - Tây
Sơn:
Nhà Mạc thay
thế Nhà Lê
Sơ 1528 đến
1598. Nông
thôn Việt
Nam tạm yên
ổn và phát
triển một
phong cách
điêu khắc
đình làng,
từ chối tính
tôn giáo và
phong kiến
trước đó.
Nội chiến
bắt đầu giữa
Nhà Mạc với
các quan lại
họ Trịnh và
Nguyễn ủng
hộ con cháu
nhà Lê, còn
gọi là chiến
tranh Nam -
Bắc triều.
Nhà Mạc thất
bại. Thế kỷ
17 họ Trịnh
nắm binh
quyền ở Bắc
Bộ chi phối
vua Lê. Họ
Nguyễn cát
cứ Nam Bộ.
Chiến tranh
Trịnh -
Nguyễn xảy
ra tới bảy
lần trong
suốt thế kỷ
17. Nhân tâm
náo loạn.
Phật giáo
phục hưng
như một cứu
cánh tinh
thần. Thế kỷ
17 - 18 cũng
là giai đoạn
phát đạt
nhất của văn
hoá nghệ
thuật. Điêu
khắc đạt số
lượng và
loại hình
đáng kể chi
phối toàn bộ
tinh thần
thẩm mỹ
người Việt.
Có các bộ
phận sau:
điêu khắc
Phật giáo
trong các
chùa làng,
điêu khắc
lăng mộ của
vua quan Lê
- Trịnh,
điêu khắc
trong các
đền thờ với
tín ngưỡng
bản địa.
Tượng Phật
là Quan Âm
"nghìn mắt
nghìn tay"
chùa Hạ
(Vĩnh Yên),
cao 3,7m; 42
tay là tác
phẩm đồ sộ
của thế kỷ
16. Tượng
Phật Bà Quan
Âm "nghìn
mắt nghìn
tay" chùa
Bút Tháp
(Bắc Ninh)
cao 3,7m; 42
tay lớn; 952
tay nhỏ kết
thành quầng
mắt và ánh
sáng rực rỡ
tiêu biểu
cho nghệ
thuật thế kỷ
17. Kết thúc
thế kỷ 18 là
nhóm điêu
khắc các vị
tổ chùa Tây
Phương được
làm năm 1794
thời Tây
Sơn. Điêu
khắc đình
làng như các
đình Phù
Lão, Chu
Quyến, Thổ
Tang, Liên
Hiệp, Hương
Lộc... mang
đến một
nguồn sinh
khí mới với
nét chạm tự
do, cấu trúc
đồ sộ như
nghệ thuật
Baroque. Cá
tính và
phong cách
cá nhân chìm
lẫn trong
các hình
tượng Thần
Phật và được
dung dưỡng
bởi đời sống
làng xã vừa
khép kín vừa
đa dạng như
những tế bào
gộp nên nền
văn hoá nông
nghiệp Việt
Nam.
Điêu
khắc thời
Nguyễn (1802
- 1945):
Nhà Nguyễn
rời đô vào
Huế, xây
dựng kinh
thành Huế và
quần thể
lăng mộ cho
các bậc đế
vương ở phía
tây kinh
thành, điêu
khắc lăng mộ
phong kiến
Huế nghèo
nàn về ngôn
ngữ và cứng
nhắc về quy
phạm. Các
lăng Gia
Long, Minh
Mạng, Thiệu
Trị, Tự Đức,
Đồng Khánh,
Khải Định
tuy khác
nhau về kiến
trúc nhưng
tương đối
thống nhất
về điêu
khắc. Tượng
quan hầu,
lính hầu,
voi và ngựa
nghiêm trang
hai bên thần
đạo, kích
thước gần
nguyên mẫu
nhưng rất
thiếu sinh
khí. Ở Bắc
Bộ, điêu
khắc Phật
giáo tiếp
tục phát
triển với
một tinh
thần chung
của xã hội
phong kiến
cuối mùa.
Tượng thì to
ra, nhưng vẻ
sinh động
giảm thiểu.
Tác phẩm
Quan Âm 112
tay chùa Tây
Phương,
tượng Phật
chùa Bà Đá,
chùa Hồng
Phúc là
những ánh
sáng loé lên
cuối cùng
khi một thời
đại mới bắt
đầu. Năm
1925, trường
cao đẳng Mỹ
thuật Đông
Dương ra
đời. Mỹ
thuật Việt
Nam có bước
ngoặt mới,
hội hoạ với
các nghệ sỹ
có tên tuổi
bắt đầu thay
thế địa vị
độc tôn của
nghệ thuật
điêu khắc
cổ.
Trên đây là
những nét
khái lược
trình bày
một cách cô
đọng đặc
tính điêu
khắc từng
thời đại.
Bên cạnh
mảng điêu
khắc tập
trung ở chốn
đình chung,
chúng ta còn
kho tàng
khổng lồ các
tác phẩm
điêu khắc
dân gian có
mặt ở khắp
đó đây trên
đất nước. Đó
là sản phẩm
điêu khắc
của những
người thợ
trong kiến
trúc nhà
cửa, vật
dụng, đồ
thờ, công
cụ...
|
|
Nguồn: TCDL |