Chứng cứ bằng văn tự đầu
tiên ghi chép về múa rối
nước Việt Nam mà chúng ta
đọc được là bia tháp Sùng
Thiện Diên Linh, dựng
năm 1121 trong đó có đoạn
viết:
"Thả rùa vàng đội ba ngọn
núi, trên mặt sóng dập dờn.
Phơi mai vân để lộ bốn chân,
dưới ḍng sông lờ lững, liếc
mắt nh́n lên bờ, cúi xét bầu
trời lồng lộng. Trông vách
dựng cheo leo, dạo nhạc
thiều réo rắt. Cửa động mở
ra thần tiên xuất hiện. Đều
là dáng điệu thiên cung, há
phải phong tư trần thế. Vươn
tay nhỏ dâng khúc Hồi phong,
nhăn mày thuư ngợi ca vận
tốt. Chim quư từng đàn ca
múa, thú lành từng đội xênh
xang..."
Vùng đồng bằng Bắc bộ có
nhiều ao hồ. Mặt nước những
ao hồ đă trở thành sân khấu
cho rối nước. Ghế ngồi của
khán giả là thảm cỏ xung
quanh hồ. Ở các làng quê,
múa rối nước thường được
diễn vào những dịp đón năm
mới hoặc trong các lễ hội.
Mỗi con rối là một tác phẩm
điêu khắc dân gian. Con rối
tạo bằng gỗ, bên ngoài phủ
một lớp sơn, ngâm nước không
thấm. Nhân vật tiêu biểu
nhất là chú Tễu, thân h́nh
tṛn trĩnh, nụ cười hóm hỉnh
lạc quan. Mở màn, chú Tễu
xuất hiện vui vẻ, nghịch
ngợm làm nhiệm vụ giáo đầu
dẫn chuyện.
Trong kho tàng múa rối nước
Việt Nam, có 30 tiết mục cổ
truyền và hàng trăm tiết mục
mới xây dựng đă làm say ḷng
khán giả trong nước và quốc
tế. |