|
Một ḍng chảy từ xa xưa
|
Âm nhạc Việt Nam có một
truyền thống khá lâu đời.
Ngay từ thời cổ cư dân ở
Việt Nam đă rất say mê âm
nhạc. Đối với họ âm nhạc là
một nhu cầu không thể thiếu.
(Chi tiết)
|
|
Cồng chiêng
|
Cồng
chiêng là loại nhạc khí bằng
hợp kim đồng, có khi pha
vàng, bạc hoặc đồng đen.
Cồng là loại có núm, chiêng
không núm. Nhạc cụ này có
nhiều cỡ, đường kính từ 20
đến 60cm, loại cực đại từ 90
đến 120cm.
(Chi tiết)
|
|
Đàn Đá
|
Nhạc khí
tự thân vang, thuộc loại
xylophone, metallophone. Mỗi
nhạc cụ là một bộ gồm nhiều
thanh đá hợp thành. Mỗi
thanh đá có kích thước và
h́nh dáng khác nhau, được
chế tác bằng phương pháp ghè
đẽo thô sơ. Vật liệu để làm
đàn là những loại đá sẵn có
ở vùng núi Nam Trung Bộ và
Đông Nam Bộ.
(Chi tiết)
|
|
Đàn T'rưng
|
Với người
Tây Nguyên lời ca tiếng đàn
luôn luôn là nguồn cổ vũ
trong đời sống. Đêm đêm
quanh ngọn lửa hồng dưới mái
nhà rông người ta kể Khan,
kể H'mon và hát lên những
làn điệu dân ca Jôn-jơ, đợi
chờ, giă gạo...
(Chi tiết)
|
|
Đàn Tranh
|
Đàn
Tranh
được
h́nh thành trong ban nhạc từ
thế kỷ 11 đến thế kỷ 14.
Thời Lư - Trần, Đàn Tranh
chỉ có độ 15 dây nên bấy giờ
gọi là "Thập ngũ huyền cầm"
và được dùng trong ban "Đồng
văn, nhă nhạc" (đời Lê Thánh
Tôn thế kỷ 15), sau này được
dùng trong cả ban nhạc giáo
phường. Thời Nguyễn (thế kỷ
19) được dùng trong ban "nhạc
Huyền" hay "Huyền nhạc", lúc
bấy giờ được sử dụng với 16
dây nên được gọi là "Thập
lục huyền cầm".
(Chi tiết)
|
|
Đàn Nguyệt (Đàn Ḱm)
|
Đàn
Nguyệt được sử dụng rộng răi
trong ḍng nhạc dân gian
cũng như cung đ́nh bác học
cổ truyền của người Việt.
Xuất hiện trong mỹ thuật
Việt Nam từ thế kỷ 11, cho
tới nay, nó vẫn giữ một vị
trí rất quan trọng trong
sinh hoạt âm nhạc của người
Việt và là nhạc cụ chủ yếu
dành cho nam giới.
(Chi tiết)
|
|
Đàn C̣ (Đàn Nhị)
|
Đàn C̣
- Đàn Nhị đă có mặt trong
nền âm nhạc truyền thống
Việt Nam từ lâu đời, đă trở
nên thân quen và gần gũi với
mọi người dân Việt Nam, nó
được trân trọng quí báu như
cổ vật gia bảo. Đàn C̣ đóng
góp một vai tṛ vô cùng quan
trọng và đắc lực không thể
thiếu trong các dàn nhạc dân
tộc Việt Nam ta từ xưa đến
nay.
(Chi tiết)
|
|
Đàn K'ni
|
Tên gọi mà người Ba Na và Ê
Đê dùng để chỉ loại đàn một
dây dùng cật tre làm cung
kéo của một số tộc sống trên
dọc Trường Sơn - Tây Nguyên
như Ba Na, Gia Rai, Ê Đê, Xơ
Đăng, Pa Kô, Hrê...
(Chi tiết)
|
|
Đàn Đáy
|
Đàn đáy là nhạc khí đặc
trưng trước kia chỉ dùng để
đệm cho một thể loại hát duy
nhất với hai nhánh mà ngày
nay người Việt thường gọi là
Hát cửa đ́nh và
Hát ả đào (hoặc Ca trù).
Chỉ nam giới mới chơi nhạc
cụ này. Có lẽ đàn được sáng
tạo từ thế kỷ 15 với sự định
h́nh của thể loại hát nói
trên.
(Chi tiết)
|
|
TRANG
[1]
[2]
[3]
|
Nguồn: TCDL |