English

 
Trang chủ | Tour Du lịch | Thông tin Việt Nam | Thông tin Du lịch | Danh bạ Du lịch | Dịch vụ bổ trợ | Vui chơi / Giải trí | Cửa hàng lưu niệm
 Thông tin Việt Nam
Khái quát chung
Lịch sử Việt Nam
Văn hóa & Nghệ thuật
  »  Phong tục tập quán
  »  Ngôn ngữ văn học
  »  Lễ hội & tṛ chơi dân gian
  - Lễ nghi
  - Tṛ hội & tṛ chơi dân gian
  »  Nghệ thuật biểu diễn
  - Nhạc cụ dân tộc
  - Dân ca & nhạc cổ
  - Sân khấu
  - Múa
  »  Trang phục
  »  Kiến trúc, mỹ thuật
  - Kiến trúc
  - Mỹ thuật
  - Thủ công mỹ nghệ
Lễ hội
Sứ quán/Lănh sự quán
Văn bản pháp luật
 Thông tin Du lịch
Địa danh du lịch
Bản đồ Việt Nam
Thị thực nhập cảnh (Visa)
Khí hậu Việt Nam
Thông tin cần thiết
Thống kê du lịch
Dự án đầu tư du lịch
Các thông tin khác
 Danh bạ du lịch
Công ty du lịch
Khách sạn
Nhà hàng
 Dịch vụ bổ trợ
Vé máy bay
Vé tàu hỏa
Vé open bus
Vé tàu thủy cao tốc
 Vui chơi / Giải trí
Biểu diễn nghệ thuật
Sân Golf
Món ăn
Bảo tàng & pḥng tranh
Các điểm du lịch Đặc sắc
  Cửa hàng lưu niệm
Bản đồ
Đồ lưu niệm
Sách & Hướng dẫn
CD & DVD
Đồ Mỹ nghệ
 

Hỗ trợ trực tuyến

Send message

Tel: (04) 39.059.059
Fax: (04) 3933.4659
Hotline: 0944 916 916

 

Số lượng Khách truy cập

 
Tour du lịch Quốc tế

Tour du lịch Thái lan

Tour Du lịch Singapore

Tour Du lịch Malaysia

Tour Du lịch Campuchia

Tour Du lịch Lào

Tour Du lịch Hồng Kông

Tour Du lịch Trung Quốc

 
  Văn hóa & Nghệ thuật

Nhạc cung đ́nh - theo ḍng lịch sử

Âm nhạc cung đ́nh Việt Nam-Nhă nhạc (triều Nguyễn) vừa được UNESCO công nhận là một di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. Vấn đề này đă được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm. Để nhận thức rơ hơn về giá trị của Nhă nhạc, một phần bản tham luận của GS.TS Trần Văn Khê về vấn đề này như sau:


 
Nhạc cung đ́nh là một bộ môn âm nhạc truyền thống đặc sắc của Việt Nam, đặc biệt Nhă Nhạc Huế đă có giá trị rất cao về phương diện lịch sử lẫn nghệ thuật. Tuy được sử dụng ở chốn cung đ́nh, nhưng việc sáng tạo và biểu diễn hầu hết đều do những nhạc sĩ, nghệ sĩ xuất thân từ trong dân gian, nhờ có tay nghề cao mà được sung vào cung để phục vụ cho triều đ́nh.

 
Đây là một bộ môn âm nhạc vô cùng tinh vi mà cho đến nay chúng ta vẫn chưa nhận thức được đầy đủ giá trị của nó. Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, Nhạc cung đ́nh là một bộ môn duy nhất được ghi vào sử sách từ xa xưa, trải qua bao thăng trầm của các triều đại, bao biến thiên của thời cuộc mà vẫn c̣n lưu lại được một di sản đáng kể có thể sử dụng để nghiên cứu về nhiều mặt: nhạc khí đa dạng, sắp xếp dàn nhạc tinh vi, nhạc ngữ độc đáo, bài bản dồi dào và quan điểm thẩm mỹ sâu sắc.

Trong Khâm định Đại Thanh Hội điển sử lệ (quyển 538, tờ 3b) xuất bản năm 1908 (thư viện Hội châu Á: Socété Asiatique) có ghi rành rẽ chi tiết của dàn nhạc cung đ́nh, có mặt cùng một lúc với phái đoàn hữu nghị do vua Quang Trung phái sang Trung Quốc, dưới thời vua Càn Long (1789), sử gia nhà Thanh đă gọi là An Nam Quốc nhạc.
Năm 1802, dàn nhạc đổi tên là Việt Nam Quốc nhạc, v́ vị vua Gia Long lên ngôi năm 1802, đăt tên nước là Việt Nam.
Ngược ḍng thời gian, đă  có một dàn Đại nhạc cung đ́nh đầu tiên xuất hiện trong sử sách, có lẽ là vào đời nhà Trần, trong quyển "An Nam chí lược" của Lê Tắc.  

Đời Hậu Lê, có nhiều bộ sử ghi lại sự kiện năm Thiệu B́nh thứ tư ( 1437) dưới thời vua Lê Thái Tông (1434-1442), nhà vua giao cho Nguyễn Trăi cùng với Lương Đăng có nhiệm vụ định ra Nhă nhạc cho triều đ́nh.
Lương Đăng muốn sắp đặt dàn Đường thượng chi nhạc giống như dàn nhạc Triều hạ yến hưởng chi nhạc của nhà Minh và Đường Hạ chi nhạc giống như các dàn Đơn bệ đại nhạc vần Giáo phường tỳ nữ nhạc của nhà Minh.

Theo Đại Việt sử kư toàn thư và Ức trai thi tập th́ Nguyễn Trăi đă dâng biểu cho nhà vua từ chối nhiệm vụ được giao phó v́ không tán thành quan điểm của Lương Đăng. Bức thư của Nguyễn Trăi là bài học quư giá về thái độ của một người nhạc sĩ chân chính đối với nền âm nhạc dân tộc trong đó có những suy tư về âm nhạc rất sâu sắc như:
Hoà b́nh là gốc của nhạc, thanh âm là căn của nhạc, hài ḥa là tính chất của nhạc. Thần mong rằng Bệ hạ thương dân để cho trong cả nước không có một âm thanh nào nói lên sự bất b́nh hay buồn thảm của dân. Nếu dân c̣n buồn thảm hay bất b́nh tức là Bệ hạ đă đánh mất một cái gốc của nhạc.

Ngoài ra c̣n nhiều quyển sử khác có ghi đôi nét về Nhă cung đ́nh qua các thời, như Quốc triều thông lễ (triều vua Trần Thái Tông), Trần triều đại diễn (triều vua Trần Dụ Tông), Lê triều hội điển, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Vũ Trung tùy bút của Phạm Đ́nh Hổ...

Những bài thuộc loại Cửu tấu, ngoài âm nhạc c̣n có lời ca được ghi đầy đủ trong quyển Đại nam Hội điển sự lệ, như trong Miếu Triệu Tổ (miếu thờ Nguyễn Kim), tên các bài ca phải có chữ Ḥa, chẳng hạn Hàm ḥa (trong lúc nghinh thần), Gia ḥa (lúc hiến lụa), Tương ḥa (trong lúc sơ hiến, dâng rượu lần đầu), Dự ḥa (trong lúc á hiến, dâng rượu lần thứ nh́), Ninh ḥa (trong lúc chung hiến dâng rượu lần cuối cùng), Mỹ ḥa (lúc dâng trà). Túc ḥa (lúc triệt hạ các lễ vật), An ḥa (lúc tiễn thần), ưng ḥa (lúc mang đuốc đi, sau khi đốt sớ).

Trong Văn miếu thờ Đức Khổng tử th́ tên những bài hát phải có chữ Văn, trong loại Yến nhạc tên bài hát phải có chữ Thành (dưới triều Gia Long), chữ Khánh (thời Minh Mạng thứ 18) hay chữ Phúc (thời Minh Mạng thứ 21) v.v...

So với các bộ môn khác, Nhạc cung đ́nh có một giá trị nghệ thuật rất cao mà trước tiên là v́ triều đ́nh có đủ quyền lực chính trị và khả năng tài chính để quy tụ những nhạc sĩ cũng như nhạc công tài năng từ khắp nơi trong đất nước, rồi tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho họ luyện tập kỹ thuật, trau dồi nghệ thuật để trở thành những nghệ sĩ chuyên nghiệp, sáng tác dồi dào, biểu diễn tinh vi.

Các nhạc khí được dùng trong Nhạc cung đ́nh cũng được chế tạo rất kỹ, chạm cẩn khéo léo, tinh xảo hơn nhạc khí dùng trong dân gian, lại có đầy đủ màu âm: tiếng kim, tiếng thổ, tiếng trong, tiếng đục, tiếng trầm, tiếng bổng, tiếng tơ, tiếng trúc, tiếng da, tiếng đá (khánh), tiếng đồng. Về độ cao có tiếng trầm của dây đài đàn tỳ bà, tiếng cao vút vi vu của tiếng sáo.

 
Nh́n chung, dàn nhạc cũng đa dạng và quy mô hơn các dàn nhạc khác, chẳng những đa dạng và quy mô mà c̣n rất đặc biệt trong sự phối hợp màu âm, không quan tâm đến số lượng, mà chú trọng đến chất lượng. Khi ḥa dàn th́ không nhạc khí nào có thể át các nhạc khí khác mà mỗi loại âm thanh đều có thể phân biệt rơ ràng. Không có bộ môn nào huy động nhiều diễn viên và xiêm y phong phú như nhạc cung đ́nh.
 

Nhạc cung đ́nh c̣n đặc biệt ở điểm bao gồm tất cả các bộ môn âm nhạc khác từ lễ nhạc (dùng vào các cuộc tế lễ lớn nhỏ của cung đ́nh, trong các chùa miếu) cho đến nhạc thính pḥng, sân khấu, kể cả các vũ điệu mà mỗi bộ môn đều có những nghệ sĩ thượng thặng chuyên sáng tạo và biểu diễn.

Theo ḍng lịch sử, không đi vào chi tiết, chỉ ghi những nét đại cương trong việc tổ chức Nhạc cung đ́nh qua các triều đại, th́ Nhạc cung đ́nh Việt Nam đă có một truyền thống rơ rệt.

Nhà Lư (thế kỷ thứ 11-13):

Tuy không có ghi lại trong sách sử, nhưng xem bức chạm trên các tảng đá ở chân cột chùa Phật Tích (Bắc Ninh), chúng ta thấy có 10 nhạc công chia thành hai nhóm. Những nhạc khí họ sử dụng bao gồm: Phách (hai miếng tre gơ vào nhau), đàn gáo, ống sáo ngang, đàn tranh, ống sênh (loại khèn bè). Ngay chính giữa là một hoa sen cách điệu hóa, tiếp theo là ống sênh, đàn tỳ bà, ống tiêu (thổi dọc), nguyệt cầm, trống loại phong yêu cổ (một tay cầm dùi, một tay vỗ như loại trống ghi năng của Chăm mà h́nh thắt đáy lưng ong).

Nhà Trần (thế kỷ thứ 13-15):

Theo An nam chí lược của Lê Tắc th́ Đại Nhạc dùng trong triều đ́nh gồm kèn tất lật (cùng loại với Pili Trung Quốc, Pili Triều Tiên và Hichiriki Nhật Bản), tiểu quản (loại ống thổi dọc), tiểu bạt (chập chơa nhỏ) và phạn ổ (trống cơm, có chú thêm "gốc từ nhạc khí Chiêm Thành, người Chăm) và một nhạc khí gọi là "đại cấu". Về nhạc khí này, cố Giáo sư Hoàng Xuân Hăn khi tra các Từ Nguyên, Từ Hải không thấy chữ "cấu" nên cũng không biết đó là loại ǵ, v́ thế khi thấy trong chữ "cấu" có bộ "cung" nên Giáo sư cho rằng đó là một nhạc khí có cung kéo).

Tiểu nhạc dùng trong dân dă, gồm có cầm, tranh, thất huyền, song huyền và tiêu loại. Không rơ "cầm" có phải là gupin (có 7 dây tơ) của Trung Quốc truyền sang hay loại đàn nào khác. Thất huyền đàn 7 dây mà guqin của Trung Quốc cũng có 7 dây.

Nhà Lê (thế kỷ thứ 15 đến cuối thế kỷ 18):

Lương Đăng phỏng theo nhạc nhà Minh lập ra hai dàn nhạc Đường thượng chi nhạc, Đường hạ chi nhạc (mà chúng tôi đă nhắc đến trong đoạn đầu) nhưng không được dùng lâu. Do các quan trong triều như Nguyễn Trăi, Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận phản đối nên về sau hai dàn nhạc ấy được thay thế bằng hai đôi Đồng Văn, Nhă nhạc và sau đó dần dần Giáo phường đă thay thế hai đội này.

Trong Lê triều hội điển và Lịch triều hiến chương loại chí đều có ghi về 8 thể loại nhạc (Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ tự nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Đại Yến nhạc, Cung trung chi nhạc, Cứu nhật nguyệt giao trùng nhạc) cùng nhiều điệu múa liên quan.

Nhà Nguyễn (đầu thế kỷ 19 đến năm 1945):

Tổ chức rất chặt chẽ và được ghi trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (bản chữ Hán quyển 99, và trong bản dịch tiếng Nôm in tại Thừa Thiên do Nhà Xuất bản Thuận Hóa phát hành năm 1993, quyển 7, trang 68-118) đă ghi rơ về tổ chức các dàn nhạc, gồm: Đại nhạc, Nhă nhạc, Huyền nhạc... Tế giao, Miếu nhạc, Yến nhạc... Với những nhạc cụ khác nhau và cách thức ứng xử tŕnh diễn khác nhau.

Tóm lại, chỉ mới nh́n qua, chưa đi vào bề sâu, mà giá trị của Nhạc cung đ́nh đă quá hiển nhiên. Mới đi qua một phần chiều dài của lịch sử, chưa đi rộng trong không gian để đối chiếu nhạc cung đ́nh Việt Nam với Yayue (Trung Quốc), Gagaku (Nhật Bản), Ah Ak, Tang Ak. Hyang Ak (Triều Tien), mà chúng ta cũng thấy ḷng tràn đầy niềm hănh diện.

Thời gian qua chúng ta đă t́m hiểu Nhạc cung đ́nh qua lịch sử cũng như đánh giá Nhạc cung đ́nh trong hiện tại. Nhưng quan trọng nhất là trước hết chúng ta nên dựng lại một cách trung thực các dàn Đại Nhạc, Nhă nhạc như ngày xưa, từ trang phục nhạc công đến phong cách biểu diễn, để giữ ǵn một tư liệu về lịch sử cho người ngày nay và mai sau biết Nhạc cung đ́nh của Việt Nam như thế nào, cũng giống như Nhật Bản ngày nay vẫn c̣n giữ lại dàn Gagaku (Nhă nhạc) hệt như dàn nhạc thành lập từ thế kỷ thứ 10.

Nhiệm vụ của chúng ta là một khi được thừa hưởng gia tài của ngàn xưa th́ trước hết giữ ǵn nguyên vẹn di sản văn hóa đó. Nếu có những cải biên đổi mới, cũng phải vô cùng thận trọng, v́ nếu không hiểu thu nhạc thời xưa mà đưa vào những yếu tố mới không phù hợp, có thể làm biến chất Nhạc cung đ́nh.

Nếu phỏng theo tinh thần của Nhạc cung đ́nh mà tạo dàn nhạc đặt bản mới th́ không thể sử dụng những tên truyền thống như Đại nhạc hay Nhă nhạc phải đặt tên mới để khỏi lầm lẫn Nhạc cung đ́nh truyền thống với nhạc cải biên.

Một bức tranh, một bức tượng có g trị nghệ thuật tự ngàn xưa th́ không ai được phép v́ muốn canh tân mà tự tiện vẽ thêm màu hay ra tay đục đẽo để phá hỏng g trị một nghệ phẩm xưa. Nhạc cung đ́nh cũng vậy.

Và, mong sao những nhà văn hóa hết sức thận trọng trong việc "cải biên, đổi mới" Nhạc cung đ́nh Việt Nam.

(Theo Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế)

Nguồn: TCDL

 

Thông tin khác
    Khái quát chung
    Khí Hậu
    Địa h́nh
    Tài nguyên
  
Tour khởi hành từ Hà nội

Tour Tham quan Hà nội

Tour Hạ long - Cát Bà

Tour Sapa - Bắc Hà

Thăm chiến trường xưa

Di sản Miền Trung

Nha Trang - Đà Lạt - Mũi Né

Hành tŕnh Xuyên Việt

 
 
Tour khởi hành Miền Trung

Tour khởi hành từ Huế

Tour khởi hành từ Đà nẵng

Tour khởi hành từ Nha Trang

Tour khởi hành từ Đà lạt

 
Tour khởi hành từ Sài g̣n

Tour Tham quan Sài g̣n

Soạn: AM 882601 gửi đến 996 để nhận ảnh này

Tour Du lịch Mekong

Nha Trang - Đà lạt - Mũi Né

Hành tŕnh di sản Miền Trung

 
 
 
 
 
 
   © Copyright Công ty Cổ phần Tập đoàn NTT    
Cruise Halong | Vietnam Cheap Tours | Viajar a Vietnam | Du lịch Cao Cấp | Tour Du lịch | Du lịch Việt Nam | Vietnam Viajes | Vietnam Hotels | Vé tàu hỏa
Vé tàu Sapa | Du lịch Tây Nguyên | Dịch Vụ Cho thuê xe | Hanoi Travel | Ohayo Tours