Tục
cưới hỏi của
đồng bào Ê Đê
Mùa xuân, có dịp
lên vùng cao
thăm đồng bào Ê
Đê, bạn sẽ cảm
nhận được nhiều
điều thú vị. Ví
như "lệ" cưới
hỏi của trai gái
thuộc dân tộc
này.
Người Ê Đê có
một cách làm đẹp
riêng. Trai gái
đến tuổi trăng
rằm - 15, 16
tuổi - phải cà 6
chiếc răng cửa
của hàm trên.
Đây là tục lệ
bắt buộc, không
bạn trẻ nào có
thể chối từ. Một
chiếc ṿng tay
được xem như "giấy
chứng nhận",
trao cho bạn trẻ
vừa cà răng xong,
và từ đó họ có
quyền tự do "t́m
hiểu".
Dân tộc này có
tục ở rể. Các cô
gái phải tự đi
kiếm chồng và
chịu phí tổn
toàn bộ tiền
cưới. Một cô gái
đă "nhằm" một
chàng trao nào
đó, th́ nhờ ông
"mối" đem chiếc
ṿng đồng sang
nhà trai để hỏi
chồng. Chàng
trai thấy "ưng
bụng" th́ sờ tay
vào chiếc ṿng
đồng ấy, rồi làm
lễ nhận ṿng.
Vậy là, sự "ràng
buộc" giữa hai
nhà đă có sợi
dây thân thiết.
Để t́m hiểu cô
dâu được kỹ
càng, nhà trai
có thể "đem" cô
gái về ở nhà
ḿnh.
Tổ chức lễ cưới
ở họ nhà gái.
Tất nhiên phải
có lợn và rượu.
Con lợn được mổ
để lấy máu thoa
vào chân cô dâu,
chú rể, rồi cúng
tổ tiên cầu cho
hai trẻ được
sống hạnh phúc.
Tiếp đó, ông
"mối" xúc cho
cô, cậu mỗi
người hai miếng
cơm và ba chén
rượu. Tất cả mọi
người có mặt đều
ăn một miếng
thịt và một
miếng ruột lợn.
Ông trưởng họ
cầm chiếc ṿng
đồng, cô dâu,
chú rể sờ tay
vào chiếc ṿng
đó, "tiết mục"
này kết thúc lễ
cưới.
Sau ba ngày, đôi
bạn trẻ về nhà
chồng lấy các
thứ tư trang,
dụng cụ sản xuất
về nhà gái, để
vợ chồng cùng
làm ăn. Người Ê
Đê coi ngoại
t́nh là một tội
nặng, v́ sự việc
không đẹp này
gây nên mùa màng
bị thất thu cho
cả buôn làng.
Bởi vậy, kẻ
ngoại t́nh phải
phạt một con lợn
trắng, hai cái
bát đồng, để làm
lễ tế đất. Tế
xong, bắt hai
người trích máu
ở đầu ngón tay
để uống, rồi
xuống suối tắm
cho sạch.
Tục
lệ cưới xin của
dân tộc La Hủ
Mời bạn lên vùng
cao phía Bắc,
thăm bà con dân
tộc La Hủ thuộc
tỉnh Lai Châu.
Tục lệ cưới xin
ở đây có nét đẹp
riêng. Tháng 11,
12 hàng năm - là
dịp tết của
người La Hủ -
cũng là mùa cưới
của các đôi trai
gái yêu nhau.
Chàng trai t́m
hiểu cô gái, đă
tới độ "chín
muồi", anh có
thể tới nhà cô
gái ngủ một vài
tối. Tục lệ cho
phép anh, chị có
thể ngủ chung
giường.
Lễ na-nhí, tức
lễ dạm hỏi như
vùng xuôi,
thường vào buổi
tối. Ông "mối"
cùng bố mẹ và
anh em nhà trai
sang nhà gái để
"có lời". Lễ vật
là rượu và một
thứ "quà quư"
của rừng - ("quà
quư" này nhất
thiết phải có
thịt sóc rừng).
Qua tṛ chuyện,
nhà gái thấy
bằng ḷng th́
hai bên cùng
uống rượu, nhắm
thịt sóc.
Sau lễ dạm là lễ
hỏi, hai lễ này
cách nhau khoảng
bảy, tám ngày.
Theo tục lệ, lễ
hỏi gồm hai chai
rượu và số con
sóc phải là số
chẵn chứ không
được số lẻ,
chừng 6 đến 8
con. Nhà trai
phải "tuân theo"
số lượng con sóc
của nhà gái: 6
hoặc 8 con, v́
theo lệ từ xưa,
số sóc không
được ít hơn 4
nhưng cũng không
được nhiều hơn
8. Người làm mối
trong lễ hỏi c̣n
là người "đầu
bếp", tự tay làm
thịt sóc, tŕnh
bày các món ăn
này sao cho ngon
để mời nhà gái.
Trong khi ăn
uống vui vẻ hai
bên trao đổi về
tiền cưới và
thời gian ở rể.
Ngày xưa, tiền
cưới khá "nặng
túi": những 70
đến 80 đồng bạc
trắng. Trường
hợp nhà rể nghèo,
không có bạc
trắng, th́ anh
phải ở lại làm
rể ngay tối hôm
đó. Thời gian ở
rể bây giờ rút
xuống c̣n từ 2
đến 4 năm, thời
trước từ 8 đến
12 năm.
Nếu lễ ăn hỏi có
số con sóc phải
chẵn, th́ lễ
cưới quy định:
đoàn đi đón dâu
phải là số lẻ,
trong đó có hai
ông "mối" và
chàng rể. Khi
nhà trai đón dâu
đi, ông "mối"
trao tiền cưới
cho nhà gái.
Trên đường đi,
dù có nhớ bố mẹ,
cô dâu cũng
không được
ngoảnh lại nh́n
ngôi nhà cô sinh
ra và lớn lên,
v́ nếu vấp ngă,
e sau này vợ
chồng có chuyện
căi cọ không
hay.
Rước dâu về đến
nhà, bà mẹ chồng
đă đứng đợi ở
cửa. Bà lấy một
nắm gạo xoa lên
lưng con dâu,
ngụ ư "xóa hết
cỏ để con dâu
không mang cỏ
về, trên nương
sẽ không có
nhiều cỏ mọc".
Lại c̣n tục lệ:
bà mẹ chồng
trồng hai cây
riềng ở hai bên
cửa vào nhà, rồi
buộc sợi chỉ
trắng qua hai
cây riềng. Lúc
vào nhà, cô dâu
đi phía tay
trái, chú rể đi
phía tay phải,
rồi chú rể dùng
tay trái, cô dâu
dùng tay phải
"cắt" đứt sợi
chỉ đó, bước vào
nhà. Xong thủ
tục này hai họ
cùng nâng chén
chúc những câu
tốt lành và ăn
uống vui vẻ.