|
Khác với các
loại h́nh
sân khấu
khác như
chèo, cải
lương...
Tuồng mang
theo âm
hưởng hùng
tráng với
những tấm
gương tận
trung báo
quốc, xả
thân v́ đại
nghĩa, những
bài học về
lẽ ứng xử
của con
người giữa
cái chung và
cái riêng,
giữa gia
đ́nh và Tổ
quốc, chất
bi hùng là
một đặc
trưng thẩm
mỹ của Tuồng.
Có thể nói
Tuồng là sân
khấu của
những người
anh hùng.
Trong những
hoàn cảnh
đầy mâu
thuẫn và
xung đột bạo
liệt bi ai
các nhân vật
chính diện
của Tuồng đă
vươn lên
thoát khỏi
sự chế ngự
của hoàn
cảnh hành
động một
cách dũng
cảm anh hùng,
trở thành
một tấm
gương, một
bài học cho
người đời
ngưỡng mộ
noi theo.
Tuồng thuộc
ḍng sân
khấu tự sự
phương Đông.
Phương thức
phản ánh đă
đẻ ra thủ
pháp và
phương tiện
biểu diễn
Tuồng. Trong
quá tŕnh
tái hiện
cuộc sống
Tuồng không
có xu hướng
tả thực mà
chú trọng
lột tả cái
thần. Tả
thần là biện
pháp nhằm
lột tả cái
cốt lơi cơ
bản, không
đi sâu vào
những chi
tiết vụn vặt
khi những
chi tiết ấy
không gây
được hiệu
quả nghệ
thuật. Để
lột tả được
cái thần của
nhân vật
Tuồng dùng
thủ pháp
khoa trương
cách điệu.
Tất cả những
lời nói,
động tác
h́nh thể sự
đi lại trên
sân khấu
Tuồng đều
được khoa
trương và
cách điệu để
trở thành
những điệu
hát, điệu
nói, điệu
múa có
nguyên tắc
và niêm luật
cụ thể.
Tuồng có một
hệ thống
những điệu
hát và những
h́nh thức
múa cơ bản
mang tính
chất mô h́nh.
Người diễn
viên tuồng
căn cứ vào
hoàn cảnh và
tính cách
nhân vật mà
vận dụng
linh hoạt
những mô
h́nh đó cho
phù hợp. Đặc
trưng của
khoa trương
cách điệu
c̣n được thể
hiện trong
âm nhạc, hoá
trang, sự
h́nh thành
các kiểu mặt
nạ hoá trang
chủ yếu là
sự khoa
trương cách
điệu đường
nét , nếp
nhăn trên
khuôn mặt
người. Quá
tŕnh khoa
trương cách
điệu trong
Tuồng đều
theo luật
chi phối của
luật âm
dương.
Cùng với
khoa trương
cách điệu,
Tuồng c̣n
dùng thủ
pháp biểu
trưng ước lệ
nghĩa là thủ
pháp lấy chi
tiết để thay
cho toàn thể
cuốn hút
khán giả
cùng tham
gia vào sự
tưởng tượng
và sáng tạo
của người
diễn viên.
Một chiếc
roi ngựa có
thể thay thế
cho một con
ngựa, chiếc
mái chèo
thay cho con
thuyền, vài
người lính
có thể thay
thế cho cả
một đạo
quân, một
ṿng đi
quanh sân
khấu có thể
thay cho vạn
dặm đường
trường.
Khác với sân
khấu hiện
thực tâm lư,
Tuồng rất ít
bài trí sân
khấu. Không
gian sân
khấu thường
được bỏ
trống, người
diễn viên
xuất hiện
th́ không
gian, thời
gian cũng
xuất hiện.
Nhân vật
hành động
trong không
gian, thời
gian nào th́
sân khấu là
không gian,
thời gian
đó. Thuở
trước các
gánh hát
Tuồng chỉ
cần chỉ có
một chiếc
chiếu trải
giữa sân
đ́nh và đôi
ba cái ḥm
gỗ đựng đạo
cụ phục
trang vậy mà
họ vẫn diễn
tả được
không gian
thời gian
khác nhau,
khi là trốn
cung điện
nguy nga,
lúc là nơi
núi rừng
hiểm trở...
Tuồng vừa
chứa đựng
yếu tố của
sân khấu cổ
điển lại vừa
chứa đựng
những yếu tố
của san khấu
hiện đại.
Yếu tố cổ
điển biểu
hiện ở chỗ
tất cả những
điệu hát,
điệu múa
được đúc kết
trở thành
khuôn vàng
thước ngọc,
hiện đại ở
chỗ người
diễn viên
biểu diễn
trên sân
khấu không
cần cảnh
trí, Tuồng
là loại sân
khấu tổng
thể. Ở đây
các yếu tố
ca, vũ nhạc
được phát
triển một
cách hài hoà
trong nghệ
thuật biểu
diễn.
Dàn nhạc
Tuồng chủ
yếu làm
nhiệm vụ hỗ
trợ trong
biểu diễn
của diễn
viên. Trong
dàn nhạc
Tuồng gồm có
bộ gơ:
(trống,
thanh la,
mơ..), bộ
hơi (kèn,
sáo, chủ yếu
là kèn); bộ
dây (nhị,
c̣, hồ, đại,
tiểu...)bộ
gảy: (tam,
tứ,
nguyệt...).
Tuồng - một
loại h́nh
sân khấu độc
đáo của Việt
Nam ẩn chứa
những giá
trị văn hoá,
tinh thần
của dân tộc,
những giá
trị nghệ
thuật mang
tính chất
bền vững.
Tuồng đă và
sẽ c̣n là
những người
bạntri âm,
tri kỷ của
các tầng lớp
nhân dân
Việt Nam. |